Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 05/2024/HS-PT

Ngày 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng

Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 06/2024/TLPT-HS-CTN ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trường T do có kháng cáo của anh Hà Đình T1 là người đại diện hợp pháp của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Trường T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 10 năm 1979, tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Đào Thị C (đã chết); vợ là Bùi Thị D (đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27-9-2012 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trật tự công cộng, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng H - Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh Y.

Địa chỉ: Số nhà G, đường Đ, tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Hà Đình T1, sinh năm 1984 (là bố đẻ của bị hại).

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Cao Trọng C1 và bà Trịnh Trang T2 - Đều là luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sự thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Số G, đường V, xã K, huyện H, thành phố Hà Nội. Điện thoại: 0989.628.xxx. Đều có mặt

- Người tham gia tố tụng khác bị kháng cáo:

Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần V

Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Phạm Việt H1 – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Quý B

Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng Tòa án xét thấy cần thiết phải triệu tập đến phiên tòa gồm:

- Chị Lương Minh T3, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ D, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 06-12-2023, Nguyễn Trường T là lái xe theo hợp đồng của Công ty Cổ phần V, điều khiển xe ô tô loại 02 chỗ ngồi và 44 chỗ nằm biển số 21B-005.24 di chuyển theo hướng thị xã N đi hướng ra xã Đ khi đến đoạn Km 186+320 quốc lộ C thuộc thôn G, xã Đ, huyện V, đây là đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, ánh sáng rõ, thời tiết mưa nhỏ, mặt đường có biểu hiện trơn trượt, lúc này T quan sát thấy phía trước xe của mình có 02 cháu nhỏ đi xe đạp điện cùng chiều và 01 xe mô tô di chuyển ngược chiều (sau này xác định chiếc xe ngược chiều có biển số 21B2-241.59 do cháu Hà Ngọc Á, sinh ngày 07-11-2008 điều khiển), T bấm còi xin vượt xe của 02 cháu học sinh đi cùng chiều đồng thời đánh lái điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường ngược chiều để vượt. Khi đầu xe ô tô của T vừa vượt qua chiếc xe đạp điện thì cháu Á di chuyển xe đến, do trời mưa, đường trơn nên khi thấy xe của T lấn hoàn toàn sang phần đường ngược chiều đã khiến cháu Á giật mình ngã ra đường va vào phần trước xe ô tô của T và bị xe kéo đi một đoạn 5,1 m. Hậu quả cháu Á tử vong tại chỗ.

Tại Bản kết luận pháp y tử thi Hoàng Ngọc Á1 số: 659/KLGĐTT-PC09 ngày 05-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

“Nguyên nhân chết của cháu Hà Ngọc Á là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu não trên tử thi đa chấn thương”.

Tại Kết luận giám định số: 52/ KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

"- Không phát hiện dấu vết va chạm của xe mô tô biển số 21B2-241.59 và xe ô tô khách biển số 21B -005.24.

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 21B2-241.59 với mặt đường thuộc phần đường bên phải theo hướng thành phố Y, tỉnh Yên Bái đi T, tỉnh Yên Bái ngay trước dấu vết cày trượt ký hiệu số 3 trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường (ảnh 1,2,3,4,5,6)".

Tại Bản kết luận định giá về tài sản số 01/KL-ĐG ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận thiệt hại của xe biển số 21B2-241.59 là 380.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động đến bạn gái là chị Lương Minh T3 bồi thường cho gia đình bị hại Hà Ngọc Á số tiền 80.000.000 đồng. Anh Hà Đình T1 và chị Hoàng Thị N là bố và mẹ của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ các tài sản đồ vật có liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên. Ngày 10-01-2024, cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Cổ phần V: 01 xe ô tô biển số 21B-005.24; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô: 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc. Trả lại cho anh Hà Đình T1: 01 xe mô tô biển số 21B2-241.59 và 01 đăng ký xe mô tô.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 104 ngày tạm giam bằng 312 ngày cải tạo không giam giữ vào thời gian chấp hành hình phạt. Thời gian chấp hành hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 7 (bảy) tháng 23 (hai mươi ba) ngày.

Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự; Điều 2, 3, 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòà án nhân dân Tối cao ngày 06-9-2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Buộc Công ty Cổ phần V có trách nhiệm bồi thường số tiền 40.600.000 (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Hà Đình T1 và chị Hoàng Thị N.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý tài sản tạm giữ, án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy của pháp luật.

Ngày 20-5-2024 người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình T1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 05 năm tù giam và áp dụng hình phạt bổ sung, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong 05 năm; buộc bị cáo T phải bồi thường tổng số tiền là 201.000.000 đồng (Chi phí mai táng là 21.000.000 đồng và bồi thường tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng).

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, anh Hà Đình T1 sửa đổi, bổ sung kháng cáo như sau:

- Về hình phạt: Yêu cầu Tòa án xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 05 năm tù giam về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe trong 05 năm.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị đơn dân sự là Công ty Cổ phần V phải bồi thường tổng số tiền là 201.000.000 đồng bao gồm các khoản chi phí mai táng và tổn thất tinh thần.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình Trịnh giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Đề nghị Hội xét xử:

- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình T1 làm trong hạn luật định là hợp lệ.

- Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh Hà Đình Trịnh. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Yên Bái.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình T1: Không có ý kiến tranh luận gì.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” là không đúng thực tế; xác định bị hại có lỗi điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa đủ điều kiện nên không có khả năng xử lý tình huống là chưa đánh giá toàn diện; bị cáo Nguyễn Trường T đã vi phạm quy tắc khi tham gia giao thông, không chấp hành đúng biển báo hiệu trên đường và chủ động tạo ra tình huống nguy hiểm cho chính bị cáo và người tham gia giao thông khác. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 355, 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT; Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP sửa bản án như sau:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 05 năm tù giam về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đồng thời, áp dụng hình phạt bổ sung, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong 05 năm.

- Buộc bị đơn dân sự phải thanh toán cho gia đình bị hại số tiền là 201.000.000 đồng gồm bồi thường tổn thất tinh thần và các khoản chi phí mai táng.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo đã tác động người thân tự nguyện bồi thường số tiền 80.000.000đồng cho đại diện bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh Hà Đình Trịnh. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo Nguyễn Trường T không có ý kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có điều kiện chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình T1 đúng hình thức, trong hạn luật định; việc sửa đổi, bổ sung kháng cáo của anh Hà Đình T1 trong phạm vi kháng cáo, nên đủ điều kiện để xem xét, giải quyết phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lương Minh T3 vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trường T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xác định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 06-12-2023, Nguyễn Trường T điều khiển xe ô tô biển số 21B-005.24 đến đoạn đường Km 186 +320 là đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, ánh sáng rõ, tình hình thời tiết mưa nhỏ, mặt đường ướt có biểu hiện trơn trượt, Nguyễn Trường T do chủ quan đã điều khiển xe ô tô vượt xe đạp điện khác khi phía phần đường ngược lại có cháu Hà Ngọc Á đang di chuyển đến, xe ô tô do Nguyễn Trường T đã đi lấn hoàn toàn sang phần đường ngược chiều khiến cháu Hà Ngọc Á đi xe mô tô biển số 21B2-241.59 ngã ra đường va vào phần bánh trước xe ô tô của T và bị xe kéo đi một đoạn 5,1m. Hậu quả cháu Á tử vong tại chỗ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Vì vậy, Bản án sơ thẩm đã kết án bị cáo Nguyễn Trường T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

[3.1] Đối với kháng cáo yêu cầu Tòa án tăng mức hình phạt và áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trường T

Xét thấy: Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo”; mặc dù bị cáo không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng đã tác động đến người thân bồi thường cho đại diện của bị hại. Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có tình tiết tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô ý. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Trường T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ và và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại cũng không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới, nên kháng cáo của anh Hà Đình T1 đề nghị Tòa án tăng mức hình phạt và áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 05 năm là không có căn cứ.

[3.2] Đối với kháng cáo về bồi thường thiệt hại:

Xét thấy: Trong vụ án này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về Công ty cổ phần V là đơn vị sở hữu và thực hiện quyền chiếm hữu, chi phối đối với chiếc xe gây tai nạn. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và đánh giá, xác định mức độ lỗi của các bên (bị cáo 60%, bị hại 40%) và buộc bị đơn dân sự phải bồi thường cho đại diện của bị hại tổng số tiền là 120.600.000đồng gồm: Chi phí mai táng và tiền tổn thất tinh thần (bằng 100 lần mức lương cơ sở - mức cao nhất của pháp luật quy định) là phù hợp. Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 18-01-2024 (bút lục 181), anh Hà Đình T1 đã nhất trí với mức bồi thường với số tiền 80.000.000đồng và cam kết không yêu cầu bồi thường hay hỗ trợ thêm gì khác. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tác động để người thân tự nguyện bồi thường cho đại diện của bị hại số tiền 80.000.000 đồng. Vì vậy, số tiền Công ty Cổ phần V còn phải bồi thường là 40.600.000 đồng, nên kháng cáo của người đại diện của bị hại buộc bị đơn dân sự phải bồi thường tổng số tiền là 201.000.000 đồng là không có căn cứ.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 05 năm tù giam và áp dụng hình phạt bổ sung, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong 05 năm và buộc Công ty cổ phần V bồi thường tổng số tiền là 201.000.000 đồng. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Yên Bái.

[5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là không có căn cứ, nên không được chấp nhận.

[7] Về án phí: Người đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Hà Đình Trịnh. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 15-5-2024 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh Yên Bái như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 104 ngày tạm giam bằng 312 ngày cải tạo không giam giữ vào thời gian chấp hành hình phạt. Thời gian chấp hành hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 01 (một) năm 7 (bảy) tháng 23 (hai mươi ba) ngày. Giao bị cáo Nguyễn Trường T cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái để giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái nhận được quyết định thi hành án.

Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 591 BLDS; Điều 2, 3, 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Buộc Công ty Cổ phần V có trách nhiệm bồi thường số tiền 40.600.000 (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Hà Đình T1 và chị Hoàng Thị N.

Kể từ ngày anh Hà Đình T1 và chị Hoàng Thị N có đơn yêu cầu thi hành án số tiền 40.600.000 (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng cho đến khi thi hành án xong mà Công ty Cổ phần V chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì Công ty Cổ phần V còn phải chịu tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS.

Về xử lý tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E có đặc điểm như trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

2. Về án phí:

2.1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Buộc Công ty Cổ phần V phải chịu án phí DSST là 2.030.000 đồng (Hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

2.2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hà Đình T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thu Hương

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT I);
  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Toà án, VKS, CA huyện Văn Chấn;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Chấn;
  • - UBND phường Trung Tâm,
  • thị xã Nghĩa Lộ;
  • - NĐD bị hại; NBVQLIHP của bị hại;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP, TA.
  • - Lưu: HS, tập án, HCTP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 05/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại, tăng hình phạt và áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger