|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/ HNGĐ - ST
Ngày: 30/7/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: +. Ông Võ Minh Vỹ
+. Ông Hoàng Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò:
Bà Phan Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đậu Thị Tuyết A, sinh năm 1991
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985
Đều trú tại: K, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
(Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Chị Đậu Thị Tuyết A trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị Tuyết A và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/03/2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, mặc dù sống xa nhau, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc đến năm 2022 thì về nước. Thời gian gần đây, khoảng tháng 3 năm 2023, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do quan điểm sống khác biệt nhau, không thể tìm được tiếng nói chung. Do vợ chồng tình cảm không còn, chị Đậu Thị Tuyết A đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Chị Đậu Thị Tuyết A và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 27/3/2015, hiện đang sống với chị Tuyết A. Sau khi ly hôn, chị Tuyết A có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thục Q, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về khoản nợ (Nghĩa vụ chung về tài sản) : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Nguyễn Văn T nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, không chấp hành các văn bản tố tụng, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại biên bản lấy lời khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với chị Đậu Thị Tuyết A về điều kiện kết hôn, thời gian, kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Anh T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh chưa khéo léo, tâm lý trong cách bày tỏ tình cảm với chị Tuyết A. Tuy nhiên, anh đã cố gắng khắc phục và hiện tại tình cảm vợ chồng đã bình thường trở lại, anh muốn đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con chung nên không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh thống nhất với chị Tuyết A, vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 27/3/2015. Nếu ly hôn, anh đồng ý để chị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thục Q. Do không đồng ý ly hôn nên anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và khoản nợ: Anh thống nhất với chị Tuyết A, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.
Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đậu Thị Tuyết A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 27/3/2015 cho chị Đậu Thị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T1.
Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
Về án phí: Chị Đậu Thị Tuyết A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án hôn nhân gia đình do Đậu Thị Tuyết A yêu cầu, nơi ĐKHKTT và cư trú của bị đơn – Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, trú tại: K, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ nhưng chị Đậu Thị Tuyết A, anh Nguyễn Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đậu Thị Tuyết A, anh Nguyễn Văn T theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị Tuyết A và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/03/2015 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Tuyết A, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, mặc dù sống xa nhau, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc đến năm 2022 thì về nước. Thời gian gần đây, khoảng tháng 3 năm 2023, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do quan điểm sống khác biệt nhau, không thể tìm được tiếng nói chung. Do vợ chồng tình cảm không còn, chị Đậu Thị Tuyết A đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Anh T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh chưa khéo léo, tâm lý trong cách bày tỏ tình cảm với chị Tuyết A. Tuy nhiên, quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ anh Nguyễn Văn T không có ý thức níu kéo, gìn giữ hạnh phúc gia đình như anh trình bày. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Tuyết A – anh T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Đậu Thị Tuyết A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Chị Đậu Thị Tuyết A và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 27/3/2015, hiện đang sống với chị Tuyết A. Sau khi ly hôn, chị Tuyết A có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thục Q, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T đồng ý cho chị Tuyết A trực tiếp nuôi con chung nhưng không đồng ý cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Thục Q là con gái, hiện đang sống cùng chị Tuyết A, ý chí của cả hai bên đều thống nhất giao cháu cho chị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho cháu Thục Q, cần giao cháu cho chị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đậu Thị Tuyết A và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí:
Chị Đậu Thị Tuyết A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đậu Thị Tuyết A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thục Q, sinh ngày 27/3/2015 cho chị Đậu Thị Tuyết A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T.
Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Đậu Thị Tuyết A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Nguyễn Văn T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.
4. Về án phí: Buộc chị Đậu Thị Tuyết A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị Đậu Thị Tuyết A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008904 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Chị Đậu Thị Tuyết A đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đậu Thị Tuyết A, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 05/2024/ HNGĐ - ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 05/2024/ HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
