Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS -ST

Ngày: 27/8/2024

V/v: “T/c về hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Hoàng Thị Kim Phượng.
  2. Ông Bùi Văn Mão.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST- KDTM ngày 25 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp về hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 và các quyết định hoãn phiên toà, thông báo mở lại phiên tòa số 01/2024/TBMLPT ngày 08/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

+ Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền của ông D: ông Đỗ Hoàng L - Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý, ông Phạm Tuấn A: phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý, ông Đỗ Thành T - phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý; Người đại diện theo uỷ quyền lại của ông Tuấn A: ông Lê Đức L1 - Trưởng phòng xử lý nợ, bà Nguyễn Thị L2 và bà Phạm Thị H - Chuyên viên xử lý nợ; ( theo văn bản uỷ quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023, văn bản uỷ quyền v/v tham gia tố tụng tại Toà án số 401/2023/UQ-LCC-KHDNMB2 ngày 04/01/2023 và số 56/2024/ UQ-LCC-KHDNMB2 ngày 05/6/2024 số 108 ngày 01/7/2024).

+ Công ty cổ phần M1; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, số B T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Anh T1- chức vụ: tổng giám đốc Công ty; Người đại diện theo uỷ quyền của ông T1: ông Phan Huy M - chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ và ông Võ Ngọc D1- chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ miền N; Người đại diện theo uỷ quyền lại của ông M: ông Lương Viết T2 - chức vụ: cán bộ xử lý nợ; ( văn bản uỷ quyền số 06/2024/UQ-TGĐ ngày 11/7/2024, văn bản uỷ quyền V/v tham gia tố tụng số 2008/2024/UQ- XLN - JUPITER ngày 19/7/2024; số 3108/2024/UQ-XLN-JUPITER ngày 08/8/2024).

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV D3. Địa chỉ trụ sở chính: số B, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn D2 - chủ tịch Công ty.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn D2, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984. Cùng địa chỉ: số B, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên Toà: có mặt: ông Lương Viết T2 ; vắng mặt không có lý do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vắng mặt có lý do: bà Phạm Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là V1 và Công ty cổ phần M1 trình bày:

* Căn cứ thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK, V1 và Công ty TNHH MTV D3 ( gọi tắt là Công ty D3) đã ký kết hợp đồng cho vay (Hợp đồng tín dụng cho vay theo hạn mức) số NBH/23021, ngày 15/3/2023 số tiền cho vay là 3.400.000.000 đồng; hợp đồng cho vay số NBH/23030, ngày 16/3/2023 số tiền cho vay là 1.000.000.000 đồng; mục đích sử dụng vốn vay: bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh buôn bán sắt thép. V1 đã giải ngân cho Công ty D3 tổng số tiền 4.400.000.000 đồng theo 02 khế ước nhận nợ là chứng từ điện tử được ký kết bằng chữ ký số:

  • - Khế ước nhận nợ số 170323-8852327-ONL-2 ngày 17/3/2023 nội dung: Công ty D3 xác nhận số nợ với V1 là 3.400.000.000 đồng; thời hạn cho vay 05 tháng, từ ngày 17/3/2023 đến ngày 17/8/2023; phương thức giải ngân: chuyển khoản vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty TNHH Đ, nội dung Công ty D3 Thơm thanh toán; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 12.5%/năm, Điều chỉnh định kỳ 01 tháng/ 01 lần, lần đầu tiên là ngày 17/4/2023, mức điều chỉnh bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản vay có kỳ hạn 5 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.2%/năm; thời hạn trả nợ: Trả hết toàn bộ nợ gốc vào ngày 17/8/2023, N lãi trả theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 25, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 25/4/2023;
  • - Khế ước nhận nợ số160323-8852327-ONL-1 ngày 17/3/2023 nội dung: Công ty D3 xác nhận số nợ với V1 là 1.000.000.000 đồng; thời hạn cho vay 05 tháng, từ ngày 17/3/2023 đến ngày 17/8/2023; phương thức giải ngân: chuyển khoản vào tài khoản của bên thụ hưởng là Công ty TNHH Đ nội dung Công ty D3 thanh toán; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 18.9%/năm. Điều chỉnh định kỳ 01 tháng/ 01 lần, lần đầu tiên là ngày 17/4/2023, mức điều chỉnh bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản vay có kỳ hạn 5 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 9.6%/năm; thời hạn trả nợ: Trả hết toàn bộ nợ gốc vào ngày 17/8/2023, N lãi trả theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 25, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 25/3/2023.
  • - Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

* Tài sản thế chấp bảo đảm khoản tiền vay của Công ty D3 là tài sản của ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023 gồm:

  • - Quyền sử dụng đất thửa đất số 105, tờ bản đồ số 21, diện tích 120m2, địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 852432 ngày 26/8/2016 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị O; Ngày 07/01/2018 chuyển nhượng cho ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo hồ sơ số 1033.CN224.
  • - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 21, diện tích 120m2, địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 994951 ngày 13/01/2016 mang tên ông Vũ Văn H1; Ngày 12/11/2018 chuyển nhượng cho ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo hồ sơ số 7532.CV24.

* Biện pháp bảo đảm: bảo lãnh cá nhân của ông Trần Văn D2 theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2023, theo đó bên bảo lãnh cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho bên được bảo lãnh (Công ty D3) trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, phạt, các khoản bồi thường thiệt hại, các khoản phải hoàn trả và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh đối với Ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng, bao gồm: Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023 và các văn kiện tín dụng được ký trước, trong và sau ngày ký kết các hợp đồng bảo lãnh này.

* Quá trình thực hiện hợp đồng: Công ty D3 đã trả được số tiền gốc là 504 đồng và một phần lãi. Từ ngày 25/7/2023 Công ty D3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay trên đã bị chuyển sang nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn. Do Công ty D3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên V1 đã khởi kiện vụ án, yêu cầu Tòa án buộc Công ty D3 phải trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày 29/6/2024 là 5.191.130.789 đồng (trong đó nợ gốc là 4.399.999.496 đồng, nợ lãi là 788.250.068 đồng, lãi chậm trả là 2.881.225 đồng). Buộc Công ty D3 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi chậm trả theo thỏa thuận trong Hợp đồng và các khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty D3 thực tế thanh toán hết nợ cho V1. Trường hợp Công ty D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023. Buộc ông Trần Văn D2 có nghĩa vụ trả thay toàn bộ khoản nợ của Công ty D3 theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2022 đã ký. Trường hợp ông Trần Văn D2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho V1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc sở hữu của ông Trần Văn D2 để thu hồi nợ cho V1.

Ngày 29/6/2024, V1 đã bán 1 phần khoản nợ của Công ty D3 cho Công ty cổ phần M1 (gọi tắt là Công ty M1) theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2024/VPB-JUPITER và phụ lục 01 đính kèm Hợp đồng mua bán nợ ký hiệu 10/PL 01/HĐ03/2024/VPB- JUPITER + danh sách khoản nợ mua bán nội dung: V1 giữa lại 10% ( phần khoản nợ chưa bán) và bán cho Công Ty Jupiter 90% ( phần khoản nợ được mua bán) khoản nợ của Công ty TNHH MTV D3 bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả trên nợ lãi, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo văn kiện tín dụng, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023 và các khế ước nhận nợ số LD 2307600737 và LD 2307602667 và các quyền lợi liên quan đến khoản nợ bao gồm tài sản bảo đảm, biện pháp bảo lãnh được ký với Ngân hàng và các bên liên quan. Bên mua nợ trở thành bên nhận bảo đảm cùng bên bán nợ được hưởng các quyền lợi gắn liền với các tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm của khoản nợ mua bán, chi tiết tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023 như đã nêu trên, bảo lãnh cá nhân theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/HĐBL ngày 16/3/2023. Ngày 29/6/2024 Công ty M1 đã hoàn tất việc thanh toán số tiền mua nợ cho V1. Dư nợ của Công ty D3 khi mua bán là:

VPBank (10%) Công ty Jupiter (90%)
Nợ gốc: 439,999,950 đồng Nợ gốc: 3,959,999,546 đồng
Nợ lãi trong hạn: 14,591,560 đồng Nợ lãi trong hạn: 131,324,042 đồng
Nợ lãi quá hạn: 64,233,447 đồng Nợ lãi quá hạn: 578,101,019 đồng
Lãi chậm trả: 288,123 đồng Lãi chậm trả: 2,593,103 đồng
Tổng cộng: 519,113,079 đồng Tổng cộng: 4,672,017,711 đồng

Ngày 08/7/2024 Công ty M1 có văn bản số 01/2024/CV- JUPITER- VPB gửi Tòa án về việc V1 đã chuyển giao một phần quyền chủ nợ theo Hợp đồng mua bán nợ + phụ lục đính kèm nêu trên; Công ty M1 kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của V1 đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của Công ty D3 trong đó có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Công ty M1 đề nghị Tòa án công nhận và thực hiện thủ tục chuyển giao, kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ của V1 sang Công ty M1 trong vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa V1 và Công ty D3. Khoản nợ đã được chuyển giao một phần được xác định bằng 90% tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ đã được mua bán theo Hợp đồng tín dụng, và các văn kiện tín dụng liên quan. Tài sản bảo đảm của Công ty D3 vẫn tiếp tục bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ tại V1 và Công ty M1 theo Hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm, hợp đồng bão lãnh đã ký kết.

Ngày 23/07/2024, Công ty D3 đã nộp số tiền 3.670.000.000 đồng, V1 và Công ty M1 đã trừ vào số tiền nợ gốc cho Công ty D3 và giải chấp 02 tài sản bảo đảm cho ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023.

Ngày 01/8/2024 V1 có văn bản số 0108/2024/TB-VPBANK, ngày 08/8/2024 Công ty M1 có văn bản số 1698/2024/CV-XLN-JUPITER đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với Công ty D3 số tiền nợ gốc là: 3.670.000.000 đồng, trong đó: V1 (10%) rút số tiền là 367.000.000 đồng, Công ty M1 (90%) rút số tiền là 3.303.000.000 đồng và rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Tòa án kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V1 và Công ty M1.

2. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: đã được Toà án tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng, các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng không đến Tòa án trình bày, không nộp ( gửi ) cho Tòa án bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì.

3. Tại phiên tòa:

  • - Bà Phạm Thị H là người đại diện theo ủy quyền lại của V1 có văn bản đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa do có việc đột xuất và đề nghị mọi quan điểm trình bày cũng như ý kiến, tranh luận và các yêu cầu Tòa án giải quyết đối với Công ty D3 của V1 đều đồng thuận với ý kiến của Công ty M1.
  • - Người đại diện theo ủy quyền của Công ty M1 là ông Lương Viết T2 trình bày: Ngày 08/7/2024, V1 và Công ty M1 đã thông báo về việc mua bán nợ cho Công ty D3 và ông D2, bà T3 qua đường B và đã được Bưu cục thông báo phát thành công. Theo thỏa thuận mua bán nợ Công ty M1 sở hữu 90%, V1 sở hữu 10% khoản nợ của Công ty D3. Công ty M1 đề nghị tòa án tiếp tục phiên tòa giải quyết vụ án theo yêu cầu của V1 và Công ty M1 không đề nghị tòa án phải trở lại bất kỳ một thủ tục tố tụng nào trước khi mở phiên tòa. Cho đến nay V1 và Công ty J đồng nhất quan điểm giữ nguyên yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện như đã nêu tại phần trình bày và chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty D3 phải thanh toán cho V1 và Công ty M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023 và số NBH/23030 ngày 16/3/2023 + các khế ước nhận nợ kèm theo; tạm tính đến ngày 27/08/2024 tổng dư nợ là 1.640.366.153đồng; Trong đó:
VPBank (10%) Công ty Jupiter (90%)
Nợ gốc: 72.999.950 đồng Nợ gốc: 656.999.546 đồng
Nợ lãi trong hạn: 14.591.560 đồng Nợ lãi trong hạn: 131.324.042 đồng
Nợ lãi quá hạn: 76.156.983 đồng Nợ lãi quá hạn: 685.412.846 đồng
Lãi chậm trả: 288.123 đồng Lãi chậm trả: 2.593.103 đồng
Tổng cộng: 164.036.615 đồng Tổng cộng: 1.476.329.537 đồng

Buộc Công ty D3 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi chậm trả theo thỏa thuận trong thỏa thuận khung, Hợp đồng và các khế ước nhận nợ nêu trên cho đến ngày Công ty D3 thực tế thanh toán hết nợ cho V1 và Công ty M1. Trường hợp Công ty D3 không trả được nợ thì buộc ông Trần Văn D2 có nghĩa vụ trả thay toàn bộ khoản nợ của Công ty D3 theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2023. Trường hợp ông Trần Văn D2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho V1 và Công ty M1 thì V1 và Công ty M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên và xử lý các tài sản thuộc sở hữu của ông Trần Văn D2 để thu hồi nợ. Công ty D3 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã tuân thủ, thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

* Đối với các đương sự : Từ khi thụ lý vụ án cũng như phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 234 BLTTDS năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 73 BLTTDS.

* Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 280, 292, 335, 342, 343, 357, 365, 368, 463, 466, 468 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 09/2015/TT-NHNN17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 18/2022/TT-NHNN26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của V1 và Công ty cổ phần M1 đối với các yêu cầu sau:

  • + Đình chỉ yêu cầu Công ty TNHH MTV D3 thanh toán một phần khoản nợ gốc là 3.670.000.000 đồng, trong đó: V1 (10%) là 367.000.000 đồng, Công ty cổ phần M1 (90%) là 3.303.000.000 đồng
  • + Đình chỉ đối với yêu cầu trường hợp Công ty TNHH MTV D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1, thì Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản là 02 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 105 và 106 tờ bản đồ số 21, diện tích mỗi thửa 120m2. Địa chỉ tại phố P, phường N, thành phố N thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo GCNQSĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 994951 do UBND TPNB cấp ngày 13/01/2016 và số CB 852432 do UBND TPNB cấp ngày 26/8/2016 theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1:

Buộc Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1 theo thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK, Hợp đồng tín dụng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng tín dụng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023 và các khế ước nhận nợ kèm theo tính đến ngày xét xử 27/8/2024 tổng số tiền 1.640.366.153 đồng, trong đó: Nợ gốc 729.999.496 đồng, N lãi trong hạn 145.915.602 đồng, nợ lãi quá hạn 761.569.829 đồng, lãi chậm trả 2.881.226 đồng.

Trong đó, Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho Công ty cổ phần M1 90% khoản nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là:

  • + Nợ gốc: 656.999.546 đồng
  • + Nợ lãi trong hạn: 131.324.042 đồng
  • + Nợ lãi quá hạn: 685.412.846 đồng
  • + Lãi chậm trả: 2.593.103 đồng
  • Tổng nợ: 1.476.329.537 đồng

Và Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho V1 10% khoản nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 27/8/2024 là:

  • + Nợ gốc: 72.999.950 đồng
  • + Nợ lãi trong hạn: 14.591.560 đồng
  • + Nợ lãi quá hạn: 76.156.983 đồng
  • + Lãi chậm trả: 288.123 đồng
  • Tổng nợ: 164.036.615 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, Công ty TNHH MTV D3 còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong thỏa thuận khung, hợp đồng tín dụng hạn mức và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp Công ty TNHH MTV D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1, ông Trần Văn D2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV D3 theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2023.

- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV D3 chịu án phí 61.210.984 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Xét thấy các bên đều có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận, bị đơn có địa chỉ trụ sở tại thành phố N nên đây là vụ án kinh doanh thương mại, tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: V1 có văn bản đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn ( không có yêu cầu phản tố), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( không có yêu cầu độc lập) đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt V1, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và giải quyết vụ án trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Tòa án thu thập được.

[2] Về nội dung vụ án: V1 và Công ty J yêu cầu Công ty D3 phải thanh toán cho V1 và Công ty M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 27/08/2024 tổng số nợ là 1.640.366.153 đồng; Trong đó:

VPBank (10%) Công ty Jupiter (90%)
Nợ gốc: 72.999.950 đồng Nợ gốc: 656.999.546 đồng
Nợ lãi trong hạn: 14.591.560 đồng Nợ lãi trong hạn: 131.324.042 đồng
Nợ lãi quá hạn: 76,156,983 đồng Nợ lãi quá hạn: 685,412,846 đồng
Lãi chậm trả: 288,123 đồng Lãi chậm trả: 2.593.103 đồng
Tổng cộng: 164.036.615 đồng Tổng cộng: 1.476.329.537 đồng

Và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023, khế ước nhận nợ số 170323-8852327-ONL-2 và khế ước nhận nợ số160323-8852327-ONL-1 cùng ngày 17/3/2023. Trường hợp Công ty D3 không trả được nợ thì buộc ông Trần Văn D2 có nghĩa vụ trả thay toàn bộ khoản nợ của Công ty D3 theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2022.

[2.1] Tính hợp pháp của thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023, được ký kết giữa V1 và Công ty D3: các thỏa thuận được ghi nhận đều trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo về thẩm quyền ký kết, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117, 119, 398 Bộ luật dân sự nên được xác định là hợp pháp. Từ ngày 25/7/2023 Công ty D3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ phát sinh nợ quá hạn nên V1 khởi kiện vụ án là có căn cứ và được chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng.

[2.2] Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất, ngày 29/6/2024, V1 bán một phần khoản nợ của Công ty D3 cho Công Ty M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2024/VPB-JUPITER JUPITER kèm theo phụ lục 01 ký hiệu 10/PL 01/HĐ03/2024/VPB- JUPITER + danh sách khoản nợ mua bán: hai bên thỏa thuận khoản nợ được mua bán là khoản nợ của Công ty D3 được V1 và Công ty D3 ký kết trong Hợp đồng tín dụng, các văn kiện tín dụng liên quan, hợp đồng bảo đảm, hợp đồng bão lãnh giữa V1 và Công ty D3. Khoản nợ được V1 giữ lại 10% và bán cho Công ty M1 là 90%; Tài sản bảo đảm của Công ty D3 vẫn tiếp tục bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ tại V1 và Công ty M1.

Ngày 29/6/2024 Công ty M1 đã thanh toán số tiền mua nợ cho V1.

Ngày 08/7/2024, V1 và Công ty M1 thông báo bằng văn bản cho Công ty D3, ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ, các văn bản này đã được Công ty C1 xác nhận phát thành công. Công ty M1 và V1 đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án và Công ty M1 được kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với các biện pháp bảo đảm liên quan. Như vậy Hợp đồng và phụ lục hợp đồng mua bán nợ nêu trên phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; phù hợp với quy định tại Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 13, Điều 14, Điều 16 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về hình thức, nội dung, điều kiện, nguyên tắc...; phù hợp với Điều 365, 368 Bộ luật dân sự về chuyển giao quyền yêu cầu và được 2 bên quy định tại Điều 5 khoản 1 điểm b Hợp đồng mua bán nợ nên có hiệu lực pháp luật. Ngày 08/8/2024 Tòa án đã ra thông báo bổ sung đưa Công ty M1 vào tham gia tố tụng, Công ty M1 là đồng nguyên đơn được kế thừa đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của V1 đối với một phần khoản nợ của Công ty D3. Do đó V1, Công ty M1 đều có quyền yêu cầu Công ty D3 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền vay và lãi chưa trả theo tỷ lệ V1 sở hữu 10% và Công ty M1 sở hữu 90%.

[2.3] Ngày 23/07/2024, Công ty D3 đã nộp số tiền 3.670.000.000 đồng; V1, Công ty M1 đã trừ vào nợ gốc và giải chấp 02 tài sản bảo đảm cho ông Trần Văn D2, bà Nguyễn Thị T3. Do vậy V1 và Công ty M1 đã có văn bản rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc là 3.670.000.000 đồng, trong đó V1 (10%) rút số tiền là 367.000.000 đồng, Công ty M1 (90%) rút số tiền là 3.303.000.000 đồng và rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu Tòa án kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho V1 và Công ty M1 theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023.

Xét việc rút một phần yêu cầu của V1 và Công ty M1 là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với khoản 2 Điều 244 BLTTDS nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu rút này.

[2.4] Về khoản nợ gốc: V1 giải ngân số tiền vay cho Công ty D3 thông qua 02 khế ước nhận nợ số 170323-8852327-ONL-2 và khế ước nhận nợ số160323-8852327-ONL-1 bằng hình thức chuyển khoản cho bên thứ 3 với tổng số tiền là 4.400.000.000 đồng, đây là chứng từ điện tử được hai bên ký kết bằng chữ ký số có giá trị pháp lý đảm bảo quy định của pháp luật. Tính đến ngày 27/8/2024, số tiền gốc Công ty D3 đã trả được là 3.670.000.504 đồng, chưa trả được là 729.999.496 đồng. Do Công ty D3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên V1 và Công ty M1 yêu cầu Công ty D3 phải thanh toán số tiền nợ gốc còn lại V1 (10%) là 72.999.950 đồng, Công ty M1 (90%) là 656.999.546 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[2.5] Về lãi suất: V1 và Công ty D3 thỏa thuận tính lãi suất theo thỏa thuận khung, hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cụ thể:

  • - Khế ước nhận nợ số 170323-8852327-ONL-2 ngày 17/3/2023, số tiền vay là 3.400.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 12.5%/năm, Điều chỉnh định kỳ 01 tháng/ 01 lần, lần đầu tiên là ngày 17/4/2023, mức điều chỉnh bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản vay có kỳ hạn 5 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.2%/năm;
  • - Khế ước nhận nợ Số160323-8852327-ONL-1 ngày 17/3/2023, số tiền vay là 1.000.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 18.9%/năm. Điều chỉnh định kỳ 01 tháng/ 01 lần, lần đầu tiên là ngày 17/4/2023, mức điều chỉnh bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản vay có kỳ hạn 5 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 9.6%/năm;

Thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK quy định lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Toàn bộ khoản vay của Công ty D3 đã chuyển quá hạn từ ngày 25/7/2023. Tính đến ngày 27/8/2024 Công ty D3 còn nợ tổng tiền lãi trong hạn, quá hạn và lãi chậm trả là 910.366.656 đồng, trong đó: lãi trong hạn là 145.915.602 đồng, lãi quá hạn 761.569.829 đồng, lãi chậm trả 2.881.226 đồng.

Như vậy, việc thỏa thuận về lãi suất của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận theo tỷ lệ phân chia:

VPBank (10%) Công ty Jupiter (90%)
Nợ lãi trong hạn: 14.591.560 đồng Nợ lãi trong hạn: 131.324.042 đồng
Nợ lãi quá hạn: 76.156.983 đồng Nợ lãi quá hạn: 685.412.846 đồng
Lãi chậm trả: 288.123 đồng Lãi chậm trả: 2.593.103 đồng

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty D3 còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong thỏa thuận khung, hợp đồng và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[2.6] Về Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2023 được ký giữa V1 và ông Trần Văn D2: ông D2 cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho bên được bảo lãnh (Công ty D3) trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với Ngân hàng phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023; thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK; các hợp đồng được ký trước, trong và sau ngày ký kết hợp đồng này nên được tính cả hợp đồng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023. Thỏa thuận bảo lãnh của ông D2 cho Công ty D3 đảm bảo quy định tại Điều 335, 336, 339, 340, 342 của Bộ luật dân sự. Do vậy V1 và Công ty M1 có quyền yêu cầu khi Công ty D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Văn D2 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng bảo lãnh.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: V1 tự nguyện nộp và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Công ty D3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 61.210.984 đồng làm tròn thành 61.211.000 đồng {Số tiền 1.640.366.153 đồng: 36.000.000 đồng + 3% (1.640.366.153 đ - 800.000.000 đ)}.

V1 và Công ty M1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí V1 đã nộp được trả lại cho V1.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Điều 280, 292, 335, 336, 339, 342, 343, 357, 365, 368, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
  • - Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Khoản 2 Điều 227; khoản1, 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điều 8; Điều 10, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 18/2022/TT-NHNN26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1; Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của V1 và Công ty cổ phần M1 đối với các yêu cầu sau:

1.1. Buộc Công ty TNHH MTV D3 phải thanh toán một phần khoản nợ gốc là 3.670.000.000 đồng, trong đó: V1 (10%) là 367.000.000 đ ( ba trăm, sáu mươi bảy triệu đồng), Công ty cổ phần M1 (90%) là 3.303.000.000 đ ( ba tỷ, ba trăm linh ba triệu đồng).

1.2. Trường hợp Công ty TNHH MTV D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ C2 và Công ty cổ phần M1, V1 và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số NBH/23021/HĐTC ngày 15/3/2023 gồm:

  • + Quyền sử dụng đất thửa đất số 105, tờ bản đồ số 21, diện tích 120m2, địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 852432 ngày 26/8/2016 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị O; Ngày 07/01/2018 chuyển nhượng cho ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo hồ sơ số 1033.CN224.
  • + Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 21, diện tích 120m2, địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình được UBND thành phố N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 994951 ngày 13/01/2016 mang tên ông Vũ Văn H1; Ngày 12/11/2018 chuyển nhượng cho ông Trần Văn D2 và bà Nguyễn Thị T3 theo hồ sơ số 7532.CV24.

2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 và Công ty cổ phần M1 đối với Công ty TNHH MTV D3 .

2.1. Buộc Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho V1 và Công ty cổ phần M1 tổng số tiền nợ gốc và lãi ttheo thỏa thuận khung về cấp tín dụng số NBH/23021/TTK, Hợp đồng tín dụng cho vay hạn mức số NBH/23021 ngày 15/3/2023, Hợp đồng tín dụng cho vay hạn mức số NBH/23030 ngày 16/3/2023, khế ước nhận nợ số170323-8852327-ONL-2 ngày 17/3/2023 và khế ước nhận nợ số 160323-8852327-ONL-1 ngày 17/3/2023) tính đến ngày 27/8/2024 là 1.640.366.153 đ ( một tỷ, sáu trăm bốn mươi triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, một trăm năm mươi ba đồng) gồm: Nợ gốc 729.999.496 đồng, N lãi trong hạn 145.915.602 đồng, nợ lãi quá hạn 761.569.829 đồng, lãi chậm trả 2.881.226 đồng.

Trong đó:

  • - Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho V1 10% số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 164.036.615 đ ( một trăm sáu mươi tư triệu, không trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm mười lăm đồng) gồm:
    • + Nợ gốc: 72.999.950 đ ( Bảy mươi hai triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, chín trăm năm mươi đồng);
    • + Nợ lãi trong hạn: 14.591.560 đ ( mười bốn triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, năm trăm sáu mươi đồng);
    • + Nợ lãi quá hạn: 76.156.983 đ ( bảy mươi sáu triệu, một trăm năm mươi sáu nghìn, chín trăm tám mươi ba đồng);
    • + Lãi chậm trả: 288.123 đ (hai trăm tám mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).
  • - Công ty TNHH MTV D3 phải trả cho Công ty cổ phần M1 90% số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 1.476.329.537 đ (một tỷ, bốn trăm bảy mươi sáu triệu, ba trăm hai mươi chín nghìn, năm trăm ba mươi bảy đồng) bao gồm:
    • + Nợ gốc: 656.999.546 đ ( sáu trăm năm mươi sáu triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm bốn mươi sáu đồng);
    • + Nợ lãi trong hạn: 131.324.042 đ ( một trăm ba mươi mốt triệu, ba trăm hai mươi tư nghìn, không trăm bốn mươi hai đồng);
    • + Nợ lãi quá hạn: 685.412.846 đ ( sáu trăm tám mươi lăm triệu, bốn trăm mười hai nghìn, tám trăm bốn mươi sáu đồng );
    • + Lãi chậm trả: 2.593.103 đ ( hai triệu, năm trăm chín mươi ba nghìn, một trăm linh ba đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong thỏa thuận khung, Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V1 và Công ty cổ phần M1.

2.2. Trường hợp Công ty TNHH MTV D3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho V1 và Công ty cổ phần M1 thì ông Trần Văn D2 phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV D3; V1 và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của ông Trần Văn D2 để thu hồi nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số NBH/23021/BLCN ngày 16/3/2023.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH MTV D3 chịu án phí là 61.211.000 đ ( sáu mươi mốt triệu, hai trăm mười một nghìn đồng).

- Trả lại tạm ứng án phí cho V1 số tiền là 56.400.000 đ (Năm mươi sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng) mà V1 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000195 ngày 24/01/2024.

Án xử sơ thẩm công khai Công ty M1 có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. V1, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6 Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND TP. Ninh Bình;
  • - Chi cục Thi hành án TPNB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Giang Thị Thúy Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/DS -ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2024/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận đơn kk
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger