TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 06/06/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bình và Bà Hoàng Thị Mây.
- - Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dần – Thư ký TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
- Ông Hoàng Văn C - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên: Bà Nguyễn Thị Khánh H – Chuyên viên.
Ngày 06 tháng 06 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, với điểm cầu thành phần là Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện B đối với các bị cáo:
1. Đỗ Hùng Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09 tháng 06 năm 1994 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Hùng Đ, sinh năm 1971; Con bà: Xuân Thị H1, sinh năm 1971; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là: Nguyễn Đình Thị B, sinh năm 1994; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 06.01.2017 bị Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000₫ (Bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Đánh nhau”, Ngày 04.4.2024 bị cáo Q nộp khoản tiền phạt 750.000 đồng (Bẩy trăm năm mươi nghìn đồng).
Nhân thân: Ngày 23/8/2018 bị cáo Đỗ Hùng Q Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 12 (mười hai) tháng tù. Ngày 05/9/2018 Đỗ Hùng Q chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo Đỗ Hùng Q bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2. Đỗ Văn C1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28 tháng 02 năm 1999 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn M, sinh năm 1979; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Chưa có;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo Đỗ Văn C1 bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
3. Mai Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12 tháng 07 năm 1965 tại huyện P, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Mai Văn C2, sinh năm 1940 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1944; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là: Nguyễn Thị Kim C3, sinh năm 1967; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2002.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo Mai Văn D bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
* Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Danh H2, sinh ngày 20/7/1990; Địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội; 2. Anh Nguyễn Xuân H3, sinh ngày 26/5/1988; Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội; 3. Lò Thị Thanh Y, sinh ngày 04/11/2008; Địa chỉ: Thị trấn nông trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
4. Chị Lường Thị P, sinh ngày 05/10/2006; Địa chỉ: Bản B, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; 5. Chị Cầm Thị O, sinh 04/12/2003; Địa chỉ: Thị trấn nông trường L, huyện V, tỉnh Yên Bái; 6. Chị Đinh Thị Vân O1, sinh ngày 21/4/2005; Địa chỉ: Bản B, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Đều có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 25/12/2023 Đỗ Hùng Q điều khiển xe ô tô chở anh Nguyễn Xuân H3 và anh Nguyễn Danh H2, đi từ xưởng nhà Q lên sân đền P1 thuộc tổ D, thị trấn P để uống nước. Đến nơi, nhóm của Q gặp và ngồi uống nước cùng Đỗ Văn C1 và anh Hà Minh C4. Tại quán nước Q nói nhỏ với C1 “Hôm nay có mấy anh em Hà Nội lên đi chơi hôm”, hiểu ý Q rủ C1 cùng đi sử dụng ma tuý, C1 liền nói “Không, hôm nay em mệt lắm”. Sau khoảng 15 phút Q tiếp tục nói với C1 “Hôm nay có hai anh em ở Hà Nội lên chơi, mấy anh em đi chơi hôm”, C1 trả lời “Vâng”, Q hỏi tiếp “Thế biết ở đâu lấy đồ để chơi không, đi tìm tí về anh em chơi” hiểu ý Q hỏi “đồ” có nghĩa là ma tuý, C1 liền trả lời “Em nghe nói ở đầu cầu cứng có người bán, để em đi tìm xem”. Q nói “Anh còn năm triệu tư, để anh chuyển cho mua đồ” rồi chuyển khoản số tiền 5.400.000 đồng đến cho C1. Sau khi Q chuyển tiền, C1 một mình điều khiển xe mô tô đi ra khu vực cầu C thuộc tổ A, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma tuý. Khi đến đầu cầu cứng C1 gặp 01 người đàn ông bịt kín mặt, đội mũ phớt, mặc áo khoác màu đen, quần dài màu đen đang ngồi trên xe AirBlade không gắn biển số, đỗ ở đầu cầu. C1 đi đến gần chỗ người đàn ông và hỏi “Anh có bán đồ không?”, người đàn ông trả lời “Có”, C1 hỏi tiếp “Thế anh bán như nào?”, người đàn ông nói “Ke là hai triệu một chỉ, kẹo là năm trăm nghìn một viên” Q hiểu ý người đàn ông nói “Ke” và “Kẹo” có nghĩa là ma tuý nên C1 nói “Thế bán cho em hai chỉ ke và bốn viên kẹo”, người đàn ông đồng ý rồi lấy từ túi áo khoác bên phải người đàn ông đang mặc ra đưa cho C1 03 túi nilon đựng tinh bột màu trắng là ma tuý Ketamine và 01 túi nilon đựng 04 viên kẹo là ma tuý dạng kẹo, C1 cầm số ma tuý người đàn ông đưa rồi để ở chỗ để chân bên phải của xe mô tô. Xong C1 lấy số tiền 6.000.000 đồng của C1 (gồm 5.400.000 đồng của tiền của Q và 600.000 đồng của C1) đưa cho người đàn ông. C1 điều khiển xe mô tô đi quay lại quán nước và nói nhỏ với Q “Lấy được rồi”, Q liền đứng dậy và nói “Thế thì đi thôi”. Lúc này C1 lấy điện thoại gọi điện hẹn chị Đinh Thị Vân O1 và chị Lường Thị P, sinh năm 2006 đến quán hát Vũ G của chị Nguyễn Thị O2, sinh năm 1964 do Mai Văn D làm quản lý để rót bia, xong C1 điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ tại tổ E, thị trấn P để cất xe rồi lấy số ma tuý vừa mua, cùng 01 loa cầm tay và 02 chiếc đèn chớp nháy cất vào balo màu đen của C1 rồi đứng đợi Q quay lại đón. Còn Q điều khiển xe ô tô chở anh H2, anh H3, trên đường đi Q nói với anh H3 và anh H2 “anh em mình xuống quán hát chơi đồ” ý Q là dùng ma túy, anh H3 và anh H2 đồng ý rồi cùng Q đi đón C1, Đinh Thị Vân O1, chị Lường Thị P. Khi cả nhóm đến quán V, Q nhìn thấy Mai Văn D đang đứng ở cửa quán, Q xuống xe hỏi D “Có phòng nào không cho cháu phòng để chơi”, hiểu ý Q hỏi phòng để sử dụng ma túy, D trả lời “Có 2 phòng đấy lấy phòng nào thì lấy”, lúc này Q đỗ xe ở sân trước cửa phòng số 02 rồi cùng C1,
3
anh H3, anh H2, chị O1, chị P xuống xe đi vào phòng số 02. Vào phòng Q lấy điện thoại gọi cho chị Cầm Thị O rủ xuống quán, sau đó, Q lấy 2 cái đệm trải xuống giữa nền phòng, C1 thì lấy từ trong ba lô ra 01 loa, 01 đèn nháy ra để ở sát tường gần ổ điện bên phải hướng từ cửa vào, còn 01 chiếc đèn nháy còn lại C1 để ở trước cửa nhà vệ sinh. C1 lấy ma tuý cất ở trong balo màu đen ra và để 02 túi ma tuý Ketamine và 01 túi ma tuý dạng viên kẹo (gồm 04 viên) để phía trên đệm trải trên giường, còn 01 túi ma tuý Ketamine C1 để phía dưới gầm giường. Lúc này D mang đến cửa phòng 01 túi nilon bên trong đựng 01 cái thẻ ATM, 01 cái đĩa sứ, 02 bao thuốc lá và bật lửa đưa Q làm dụng cụ để sử dụng ma túy. Q liền hỏi “Của cháu hết bao nhiêu tiền” thì Dương đáp “Một triệu”, Q liền lấy số tiền 1.000.000 đồng đưa cho D, rồi cầm đồ D đưa mang vào trong phòng. Lúc này Q lấy bật lửa ra hơ đĩa ra cho nóng rồi để ở trên đệm, lấy một viên ma tuý dạng kẹo trên giường bẻ một nửa ra để sử dụng, còn một nửa để lại chỗ cũ. Còn C1 lấy 02 túi ma tuý dạng Ketamine trên giường đổ lên chiếc đĩa Q vừa đốt, sau đó đảo đi đảo lại rồi dùng thẻ ATM kẻ ma tuý thành 01 đường thẳng nhỏ, rồi đặt chiếc đĩa lên trên giường rồi nói “Ai chơi thì chơi”. Nghe C1 nói vậy Q, H3, H2, Vân O1 và P cùng tham gia sử dụng ma tuý, C1 cũng sử dụng ma túy cùng mọi người được khoảng 01 tiếng thì có Cầm Thị O và Lò Thị Thanh Y, sinh năm 2008 đến tham gia sử dụng ma tuý. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/12/2023 khi Q, C1 cùng Hiện, H2, Y, Vân O1, P và Cầm Thị O đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện B tiến hành kiểm tra, bắt quả tang về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi zip bằng nilon trong suốt, có viền màu xanh, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (là ma tuý K) tại vị trí trên nền nhà phía dưới gầm giường (ký hiệu M1); thu giữ 01 túi zip bằng nilon trong suốt có viền chỉ màu xanh, bên trong túi zip có bám dính các hạt tinh thể trong suốt (là ma tuý Ketamin) tại vị trí đầu giường (ký hiệu M2); thu giữ 01 túi zip bằng nilon trong suốt có viền chỉ màu xanh, bên trong túi zip có bám dính các hạt tinh thể trong suốt (là ma tuý Ketamin) tại vị trí trong ba lô để trên giường (ký hiệu M3); thu giữ 01 đĩa sứ màu trắng (ký hiệu M4) và 01 bật lửa màu tím thu giữ trên tay của Đinh Thị Vân O1; thu giữ trên giường trong phòng 01 thẻ ngân hàng ATM T trên thẻ có ghi dòng chữ HOANG QUANG DAI (ký hiệu M6) và 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (ký hiệu M5); Thu giữ 01 loa cầm tay nhãn hiệu harman/kardon và 01 đèn bên trên có ghi dòng chữ PARTY LIGHT, 01 đèn bên dưới có ký hiệu RHD - 210 tại vị trí sát tường bên phải theo hướng từ cửa vào, 01 ba lô màu đen kích thước 40 x 38 x 10 để trên giường trong phòng. Cùng ngày Cơ quan CSĐT công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Mai Văn D tại tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét Mai Văn D đã tự giác giao nộp số tiền 1.000.000 đồng thu lợi từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1; Mai Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của của mình.
4
Tại bản kết luận giám định số: 24/KL-GĐMT ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu M1: 0,81 gam các hạt tinh thể màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Ketamine; Mẫu M2: Các hạt tinh thể trong suốt bám dính trong túi zip bằng nilon trong suốt có viền chỉ màu xanh được ghi ký hiệu M2 gửi giám định là loại chất ma tuý Ketamine, không xác định được khối lượng; Mẫu M3: Các hạt tinh thể trong suốt bám dính trong túi zip bằng nilon trong suốt có viền chỉ màu xanh được ghi ký hiệu M3 gửi giám định là loại chất ma tuý Ketamine. Không xác định được khối lượng; Mẫu M4: Tìm thấy chất ma tuý loại Ketamine trên đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 26 cm gửi giám định. Không xác định được khối lượng của chất ma tuý Ketamine trên đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 26 cm gửi giám định; Mẫu M5: Tìm thấy chất ma tuý loại Ketamine trong 01 (một) ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng do Ngân hàng N phát hành, số seri: NR18755951, bên ngoài tờ tiền được cuốn 03 đoạn giấy màu vàng gửi giám định. Không xác định được khối lượng của chất ma tuý Ketamine trong 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng do Ngân hàng N phát hành, số seri: NR18755951, bên ngoài tờ tiền được cuốn 03 đoạn giấy màu vàng gửi giám định; Mẫu M6: Tìm thấy chất ma tuý loại Ketamine trên thẻ ATM T, trên thẻ có ghi dãy số: 4221498695315201 và dòng chữ HOANG QUANG DAI gửi giám định. Không xác định được khối lượng của chất ma tuý Ketamine trên thẻ ATM.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSBY ngày 05/04/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Hùng Q từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 07 (Bẩy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023;
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C1 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng đến 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023; Xử phạt bị cáo Mai Văn D từ 07 (Bẩy) năm đến 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
5
Tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên Toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản xác định hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Biên bản niêm phong đồ vật tạm giữ; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Bản kết luận giám định số 24/KL-GĐMT ngày 29/12/2023 của phòng K Công an tỉnh L; Các biên bản xác minh; Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 05/KLĐT-CSĐT ngày 18 tháng 03 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Bản cáo trạng số 05/CT-VKSBY ngày 05/04/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở đủ khẳng định: Ngày 26/12/2023 bị cáo Đỗ Hùng Q đã rủ bị cáo Đỗ Văn C1 đi mua ma túy về để tổ chức sử dụng cho 6 người cùng khác cùng với các bị cáo, trong đó có Lường Thị P, sinh ngày 5/10/2006 và Lò Thị Thanh Y, sinh ngày 04/11/2008 (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi). Bị cáo Mai Văn D đã giúp sức cho bị cáo Đỗ Hùng Q và Đỗ Văn C1 thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố các bị cáo về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
6
Các bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Các bị cáo nhận thức được hành vi "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, ăn chơi, đua đòi và do hám lời nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đỗ Hùng Q là người khởi xướng việc mua ma túy; Đóng góp số tiền 5.600.000 đồng để mua ma túy; Trả tiền phòng 1.000.000 đồng cho Mai Văn D để có địa điểm sử dụng ma túy và rủ rê Đỗ Văn C1; Nguyễn Xuân H3 và anh Nguyễn Danh H2; Cầm Thị O sử dụng ma túy chung với mình nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo Đỗ Văn C1 sau khi được rủ rê bị cáo đã tích cực thực hiện hành vi phạm tội đó là: Trực tiếp đi mua ma túy; đóng góp thêm số tiền 600.000 đồng để mua ma túy, chuẩn bị 01 loa cầm tay và 02 chiếc đèn chớp nháy, gọi điện rủ rê Đinh Thị Vân O1 và chị Lường Thị P nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ hai trong vụ án; Bị cáo Mai Văn D mặc dù không trực tiếp sử dụng ma túy, không đi mua ma túy nhưng là người cung cấp địa điểm cho các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp 01 thẻ ATM, 01 đĩa sứ, 02 bao thuốc lá và bật lửa để làm dụng cụ sử dụng ma túy và thu lời bất chính số tiền 1.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm thứ ba trong vụ án.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo Đỗ Hùng Q là người có nhân thân xấu. Ngày 06.01.2017 bị Công an huyện H ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 750.000 đồng, Ngày 04.4.2024 bị cáo Q nộp khoản tiền phạt 750.000 đồng; Ngày 23/8/2018 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 12 (Mười hai) tháng tù. Năm 2018 Đỗ Hùng Q chấp hành xong án phạt tù.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Đỗ Văn C1 có ông là ông Đỗ Văn H4 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Bị cáo Mai Văn D có bố đẻ là ông Mai Văn C2 được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang Hạng ba và Huân chương kháng chiến Hạng Ba; Mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị L1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên các bị cáo được áp dụng
7
thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với các bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mỗi bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như gia cảnh của từng bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Xong xét thấy điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với 0,78 (không phẩy bảy mươi tám) Ketamin được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết được ký hiệu bên ngoài là: M1; 03 (ba) túi zip bằng nilon trong suốt đều có viền chỉ màu xanh được ghi ký hiệu bên ngoài tương ứng là: M1, M2 và M3, được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là: M2; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 26 cm được đựng trong 01 (một) túi nilon và được ghi ký hiệu bên ngoài là: M3; 01 (một) thẻ ATM T trên thẻ có ghi dãy số: 4221498695315201 và dòng chữ HOANG QUANG DAI, được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là M4; 03 (ba) đoạn giấy màu vàng được quấn thành dạng hình trụ tròn được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là M5; 01 (một) bật lửa màu tím, được cho vào túi nilon ghi ký hiệu bên ngoài là M6 được niêm phong vào 01 (một) hộp bìa carton có kích thước (31,5 x 27,5 x 3)cm rồi dán niêm phong kín xung quanh bằng giấy trắng. Tại các mép dán của giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia, hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L và được dán phủ bằng băng dính trong suốt. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Văn C1, Đỗ Hùng Q cùng các đối tượng có hành vi phạm tội về ma tuý ngày 26/12/2023 tại tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai”; Đây là vật chứng của vụ án Nhà nước cấm lưu hành và những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) tờ tiền có ghi mệnh giá 10.000 (Mười nghìn đồng) do Ngân hàng N phát hành, số seri: NR18755951 được đựng trong 01 (một) túi
8
nilon loại có mép miết được ghi ký hiệu bên ngoài là M7 được niêm phong bằng cách cho vào 01 (một) bì thư in sẵn của Phòng K - Công an tỉnh L dán kín lại. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Văn C1, Đỗ Hùng Q cùng các đối tượng có hành vi phạm tội về ma tuý ngày 26/12/2023 tại tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì niêm phong tại mép dán có chữ ký của những người tham gia, 02 hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L và được dán phủ bằng băng dính trong suốt cần chuyển bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện B. Đây là tờ tiền các bị cáo sử dụng làm công cụ để sử dụng ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số seri: 18501130 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số seri: 18442323 được niêm phong vào 01 (một) phong bì in sẵn do Bưu điện V1 phát hành. Một mặt phong bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Số tiền 1.000.000 đồng Mai Văn D tự giác giao nộp do Đỗ Hùng Q trả tiền thuê phòng”. Mặt còn lại có chữ ký của những người tham gia và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Hiện đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện B. Đây là số tiền do bị cáo D phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt chính là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ bị cáo Đỗ Văn C1 khai đã bán ma túy cho bị cáo. Trong quá trình điều tra do thiếu những thông tin cần thiết về nhân thân đối tượng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật.
[8] Đối với Nguyễn Xuân H3 và Nguyễn Danh H2, Lò Thị Thanh Y và Đinh Thị Vân O1, Lường Thị P, Cầm Thị O ngày 26/12/2023 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền và trả tự do cho những người này là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Đối với chị Nguyễn Thị O2 là chủ quán Vũ Gia do không biết, không liên quan đến việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên cơ quan CSĐT Công an huyện B không đề cập xử lý là đúng quy định.
[10] Về án phí: Bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
9
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Hùng Q. Xử phạt bị cáo Đỗ Hùng Q 07 (Bẩy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023;
- Áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Đỗ Văn C1 và Mai Văn D.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C1 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023;
- Xử phạt bị cáo Mai Văn D 07 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/12/2023;
[3]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu để tiêu hủy: 0,78 (không phẩy bảy mươi tám) Ketamin được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết được ký hiệu bên ngoài là: M1; 03 (ba) túi zip bằng nilon trong suốt đều có viền chỉ màu xanh được ghi ký hiệu bên ngoài tương ứng là: M1, M2 và M3, được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là: M2; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, hình tròn có đường kính 26 cm được đựng trong 01 (một) túi nilon và được ghi ký hiệu bên ngoài là: M3; 01 (một) thẻ ATM T trên thẻ có ghi dãy số: 4221498695315201 và dòng chữ HOANG QUANG DAI, được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là M4; 03 (ba) đoạn giấy màu vàng được quấn thành dạng hình trụ tròn được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết và được ghi ký hiệu bên ngoài là M5; 01 (một) bật lửa màu tím, được cho vào túi nilon ghi ký hiệu bên ngoài là M6 được niêm phong vào 01 (một) hộp bìa carton có kích thước (31,5 x 27,5 x 3)cm rồi dán niêm phong kín xung quanh bằng giấy trắng. Tại các mép dán của giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia, hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L và được dán phủ bằng băng dính trong suốt. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Văn C1, Đỗ Hùng Q cùng các đối tượng có hành vi phạm tội về ma tuý ngày 26/12/2023 tại tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai”;
10
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) tờ tiền có ghi mệnh giá 10.000 (mười nghìn đồng) do Ngân hàng N phát hành, số seri: NR18755951 được đựng trong 01 (một) túi nilon loại có mép miết được ghi ký hiệu bên ngoài là M7 được niêm phong bằng cách cho vào 01 (một) bì thư in sẵn của Phòng K - Công an tỉnh L dán kín lại. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau giám định thu giữ khi bắt quả tang Đỗ Văn C1, Đỗ Hùng Q cùng các đối tượng có hành vi phạm tội về ma tuý ngày 26/12/2023 tại tổ I, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì niêm phong tại mép dán có chữ ký của những người tham gia, 02 hình dấu thu nhỏ màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L và được dán phủ bằng băng dính trong suốt cần chuyển bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện B. Đây là tờ tiền các bị cáo sử dụng làm công cụ để sử dụng ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số seri: 18501130 và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), số seri: 18442323 được niêm phong vào 01 (một) phong bì in sẵn do Bưu điện V1 phát hành. Một mặt phong bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Số tiền 1.000.000 đồng Mai Văn D tự giác giao nộp do Đỗ Hùng Q trả tiền thuê phòng”. Mặt còn lại có chữ ký của những người tham gia và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Hiện đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện B. Đây là số tiền do bị cáo D phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên ngày 05/4/2024.
[4]. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Đỗ Hùng Q; Đỗ Văn C1 và Mai Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
11
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Thắng |
12
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN ĐỖ HÙNG QUAN VÀ ĐỒNG PHẠM
