TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KIÊN HẢI TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:05/2024/HSST Ngày 24/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Quốc Việt.
- Bà Hoàng Thị Hường.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nhã Phi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 2 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo: Nguyễn Thị N, Sinh năm 1979; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Nguyễn Văn D và bà: Huỳnh Thị L; A (chị ) em ruột: gồm 06 người, lớn nhất, sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1985 (Bị cáo là người con thứ ba gia đình); Bị cáo có chồng và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; Tiền án; Tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/5/2023 đến ngày 29/5/2023 cho tại ngoại cho đến nay.
- Bị cáo: Danh Thanh T, Sinh năm 1992; Gới tính: Nam
Nơi cư trú: ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Khmer; Tôn Giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Danh Sỏi và bà Thị M; A (chị ) em ruột: gồm 04 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996, (Bị cáo là con thứ ba trong gia đình); Bị cáo có vợ và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền sự; Tiền án: Chưa.
Về nhân thân: Vào ngày 18/9/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội " cố ý gây thương tích". Theo Bản án số 59/2018/HS-ST ngày đã chấp hành xong ngày 07/5/2019 và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/5/2023 đến ngày 27/5/2023 cho tại ngoại cho đến nay.
- Bị cáo: Trần Thị D1, Sinh năm 1972; Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn Giáo: Phật giáo hoà hảo; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Bán vé số; Con ông: Đặng Văn M1 (chết) và bà Trần Thị Đ (Chết); Anh (chị ) em ruột: gồm 02 người, lớn nhất, sinh năm 1965, nhỏ nhất sinh năm 1972 (Bị cáo); Bị cáo có chồng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, Tiền sự: Chưa.
Bị cáo được tại ngoại.
- Bị cáo: Trần Thị Ú, Sinh năm 1972; Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Trần Văn K (Chết) và bà Huỳnh Thị L1 (Chết); Anh (chị ) em ruột: gồm 06 người, lớn nhất, sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1972 (Bị cáo); Bị cáo có chồng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền sự: Tiền án: Không.
Nhân thân: Vào ngày 10/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 12 tháng về tội đánh bạc, tại bản án số 10/2008/HSST bị cáo đã chấp hành xong và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2023 đến ngày 27/5/2023 cho tại ngoại cho đến nay.
- Bị cáo: Nguyễn Thị T1, Sinh năm 1969; Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông: Nguyễn Văn D2 (Chết) và bà Thị N1 (Chết); Anh (chị ) em ruột: gồm 07 người, lớn nhất, sinh năm 1969 (Bị cáo), nhỏ nhất sinh năm 1981; Bị cáo có chồng và con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo được tại ngoại cho đến nay.
- Bị cáo: Thạch Thị N2 (Tên gọi khác: L2), S năm 1962; Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Tổ F, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Khmer; T: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Bán vé số; Con ông: T (Chết) và bà Trương Thị C (Chết); Anh (chị ) em ruột: gồm 05 người, lớn nhất, sinh năm 1962 (Bị cáo), nhỏ nhất sinh năm 1976; Bị cáo có chồng và con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo được tại ngoại cho đến nay.
- Bị cáo: Lê Viết M2, Sinh năm 1955; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lê Viết M3 (Chết) và bà Võ Thị H (Chết); Anh (chị ) em ruột: gồm 06 người, lớn nhất, sinh năm 1931, nhỏ nhất sinh năm 1970 (Bị cáo là con thứ tư trong gia đình); Bị cáo có vợ và 05 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo được tại ngoại cho đến nay.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thanh T2, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện C tỉnh Kiên Giang.
Người làm chứng:
- Đoàn Tuấn K1 – sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: 1 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Trần Út Đ1 – Sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023, lực lượng Công an huyện K tiến hành bắt quả tang 01 sòng bạc đang đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh bài cào ba lá, tại cái chòi thuộc khu đất trống cặp quán cà phê ông Trần Út Đ1 tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Lực lượng Công an tiến hành bắt quả tang tại sòng bạc có 06 đối tượng gồm: Danh Thanh T, Phạm Thanh T2, Đoàn Tuấn K1, Đỗ Thế Trần Công L3, Trần Thị Ú, Trần Út Đ1, còn một số đối tượng khác chạy thoát.
Trong quá trình điều tra, đã xác định được như sau: Nguyễn Thị N sử dụng căn chòi lá do gia đình cất trên đất trống thuộc tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang để sinh hoạt nhưng vì động cơ vụ lợi N đã cho các đối tượng đến tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền. N lấy tiền xâu và là người cung cấp bài cho người chơi, người nào làm cái muốn đổi bài hoặc cái ăn sẽ đưa tiền xâu cho N số tiền 100.000đ/lần.
Vào khoảng 20 giờ ngày 18/5/2023 Phạm Thanh T2 đi ngang chòi của N thấy một số người chuẩn bị đánh bài. Lúc này Phạm Thanh T2 đến thấy sẵn có bài đang để ở chòi, nên T2 vào tham gia đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền, hình thức chơi cụ thể: có một người làm cái chia bài, còn các tụ tay em đặt tiền, người chơi đặt tụ sẽ lấy tiền đặt trên chiếu bạc, tụ cái chia bài ngay vị trí làm cái và vị trí đặt tiền của người chơi, mỗi tụ được chia ba lá bài, mỗi tụ chơi sẽ lấy bài ngay vị trí tiền của mình đã đặt tiền rồi xem bài. Cách thức chơi bài là tính số nút trên ba lá bài cộng lại, tính chẳn lấy hàng đơn vị ví dụ như: 03 lá bài có số nút cộng lại ví dụ 5+6+7=18 sẽ tính là 8 nút ..., trong đó ba cây bài có hình J, Q, K tính là mười, nếu có 03 lá bài này thì gọi là ba cào là bài lớn nhất ăn hết còn lại là 9 nút, 8 nút, 7 nút ..., nếu 03 lá bài cộng lại bằng chẳn chục thì bù là nhỏ nhất thua hết. Nếu tụ tay em có số nút nhỏ hơn tụ cái thì tụ cái sẽ thắng và lấy số tiền của người chơi đã đặt, nếu tụ tay em có số nút lớn hơn tụ cái thì tụ tay em sẽ thắng, tụ cái sẽ chung cho tụ tay em bằng số tiền tay em đặt, còn nếu tụ cái và tụ tay em bằng nút nhau thì hòa.
Phạm Thanh T2 làm cái chia bài, tụ tay em dao động từ 04-05 tụ, trong đó có Trần Thị D1 và một số người khác, mỗi tụ đặt ăn thua số tiền là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), Phạm Thanh T2 làm cái được khoảng 02 bộ bài từ 04-05 bàn thì thua hết 1.000.000 đồng thì nghỉ. Lúc này Danh Thanh T đi đến chơi và
làm cái chia bài các tụ tay em đặt tiền gồm Trần Thị D1 đặt 01 tụ, Trần Thị Ú đặt 02 tụ và một số người khác mỗi tụ đặt 100.000 đồng. Khi Danh Thanh T làm cái nếu tụ cái thua mở bài bù với 01 nút thì số người tham gia nhiều lên, nếu tụ cái ăn thì số người tham gia ít lại dao động thấp nhất 07 tụ, cao nhất 17 tụ ăn thua với nhau là 100.000 đồng. Khi sòng bài diễn ra có Lê Viết M2, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2 đến tham gia đặt tụ cụ thể như sau:
Danh Thanh T ngồi trên sạp trong cái chòi làm cái chia bài, Phạm Thanh T2 ngồi kế bên phải Danh Thanh T, kế bên là Thạch Thị N2 ngồi đặt tụ, kế đến là Nguyễn Thị T1 đứng đặt tụ, Trần Thị Ú ngồi ghế mũ đặt tụ, Trần Thị D1 ngồi trên sạp tham gia đặt tụ bên phải của Trần Thị Ú, Lê Viết M2 đứng tham gia đặt tụ bên tay phải của Trần Thị D1 cùng một số tụ tay em khác không xác định. Khi sòng bài diễn ra đến 21 giờ 30 phút thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang lúc này Danh Thanh T, Trần Thị D1, Thạch Thị N2, Nguyễn Thị T1, Lê Viết M2, Trần Thị Ú và một số người khác đang tham gia chơi đánh bài cào ba lá ăn thua với nhau bằng tiền, lực lượng Công an tiến hành thu giữ tại chiếu bạc Tiền Việt Nam 5.300.000 đồng cùng nhiều tang vật chứng khác. Khi bắt quả tang Trần Thị D1 gom tiền 100.000 đồng đặt tụ bỏ chạy; Thạch Thị N2 bàn cuối hùn chơi với một người phụ nữ gom tiền 100.000 đồng đặt tụ bỏ chạy và trả lại cho người phụ nữ này 50.000 đồng, N2 giữ 50.000 đồng; Nguyễn Thị T1, Lê Viết M2 và một số đối tượng khác chạy thoát,
Trong lúc xòng bài diễn ra, Trương Anh K2 đến tham gia bắt có với tụ cái là Danh Thanh T với hình thức bắt cái lời hoặc lỗ, nếu bắt cái lỗ khi kết thúc ván (bàn) bài tụ cái thu tiền nhiều hơn thắng các tụ tay em thì K2 thua và ngược lại, K2 tham gia bắt cái lỗ 02 bàn thua hết 200.000 đồng thì nghỉ. Đỗ Thế Trần Công L3 đến tham gia hùn đặt tụ tay em với một người khác không rõ nhân thân lai lịch với số tiền là 50.000 đồng chơi được 02 bàn thì nghỉ.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Danh Thanh T, Trần Thị D1, Trần Thị Ú, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2, Nguyễn Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Thị N khai nhận do Nguyễn Hoàng G (G) yêu cầu N cung cấp địa điểm cho đánh bài và trực tiếp lấy tiền xâu, sau đó đưa lại cho G, G sẽ trả tiền công cho N. N đã cho các đối tượng đánh bài tại chòi của N và lấy xâu được 1.100.000 đồng (trong đó: 03 ngày trước với tổng số tiền là 1.000.000 đồng đã đưa cho G 600.000 đồng, G cho N lại 400.000 đồng và số tiền xâu được tại sòng bài bắt quả tang ngày 18/5/2023 là 100.000 đồng).
Riêng Đoàn Tuấn K1, Trần Út Đ1 khi bắt quả tang có mặt tại hiện trường nhưng không có tham gia. Phạm Thanh T2, Trương Anh K2, Đỗ Thế Trần Công L3 trước khi sòng bài bị bắt có tham gia đánh bài, tuy nhiên xét hành vi của các đối
tượng chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự không đủ cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Tang vật chứng thu giữ khi bắt quả tang tại chiếu bạc: Tiền Việt Nam 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng) thu tại chiếu bạc; 53 (năm mươi ba) lá bài tây, đã qua sử dụng; 01 (một) cái điện thoại hiệu S1 màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu, đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) hộp bài tây, chưa qua sử dụng; 08 (tám) vỏ bài tây đã qua sử dụng; 547 (năm trăm bốn mươi bảy) lá bài tây, đã qua sử dụng
- Khám xét những người bị bắt quả tang thu giữ: Thu giữ của Danh Thanh T: Tiền Việt Nam 2.770.000 đồng (hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7. Thu giữ của Đoàn Tuấn K1: Tiền Việt Nam 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Thu giữ của Trần Thị Ú: Tiền Việt Nam 795.000 đồng (bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Thu giữ của Đỗ Thế Trần Công L3: Tiền Việt Nam 122.000 đồng (một trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã xác minh một số tài sản thu giữ không dùng vào việc phạm tội nên đã trao trả cho chủ sở hữu: Danh Thanh T gồm Tiền Việt Nam 2.770.000 đồng (hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7; Đoàn Tuấn K1 số tiền Việt Nam 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng); Trần Thị Ú số tiền Việt Nam 795.000 đồng (bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng); Đỗ Thế Trần Công L3 số tiền Việt Nam 122.000 đồng (một trăm hai mươi hai nghìn đồng) và 01 (một) cái điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 03/CT – VKS - KH ngày 22/2/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang truy tố các bị cáo Danh Thanh T, Trần Thị D1, Trần Thị Ú, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2, Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức án đề nghị cụ thể từng bị cáo như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho các bị cáo: Nguyễn Thị N, Trần Thị D1, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 35 và
Điều 58 Bộ luật hình sự cho các bị cáo: Danh Thanh T; Trần Thị Út .
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Danh Thanh T mức án phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Ú mức án phạ tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Thị D1 mức án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Lê Viết M2 mức án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 mức án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Xử phạt bị cáo Thạch Thị N2 mức án phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động có mức thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự tuyên xử:
- + Tịch thu tiêu hủy: 53 (năm mươi ba) lá bài tây, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu, đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) hộp bài tây, chưa qua sử dụng; 08 (tám) vỏ bài tây đã qua sử dụng; 547 (năm trăm bốn mươi bảy) lá bài tây, đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu giữ tại chiếu bạc khi bắt quả tang 5.300.000đ (năm triệu ba trăm nghìn đồng).
- + Buộc Thạch Thị N2 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), buộc Trần Thị D1 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Buộc Nguyễn Thị N giao nộp số tiền thu lợi bất chính trong 04 ngày là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã xác minh một số tài sản thu giữ không dùng vào việc phạm tội nên đã trao trả cho chủ sở hữu: Danh Thanh T gồm Tiền Việt Nam 2.770.000 đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7; Đoàn Tuấn K1 số tiền Việt Nam 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng); Trần Thị Ú số tiền Việt Nam 795.000 đồng (bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng); Đỗ Thế Trần Công L3 số tiền Việt Nam 122.000 đồng (một trăm hai mươi hai nghìn đồng) và 01 (một) cái điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Đối với Đoàn Tuấn K1, Trần Út Đ1 khi bắt quả tang có mặt tại hiện trường nhưng không tham gia đánh bạc Nên cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện K không đề không xử lý là phù hợp. Phạm Thanh T2 và Đỗ Thế Trần Công L3, Trương Anh K2 trước khi xòng bạc bị bắt quả tang có tham gia đánh bạc. Tuy nhiên hành vi của Phạm Thanh T2 và Đỗ Thế Trần Công L3, Trương Anh K2 chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện K không truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng đối tượng tên "Giang Nảo", "Vàng" Nguyễn Thị N khai có yêu cầu N lấy xâu tại chòi do N cất rồi cho tiền N xài. Cơ quan điều tra Công an huyện K đang tiếp tục điều tra, truy tìm xác minh làm rõ, khi nào có đủ tài liệu chứng cứ sẽ xử lý sau.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo và xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 5 năm 2023 tại chòi lá của Nguyễn Thị N, thuộc tổ A, ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang, lực lượng Công an huyện K đã bắt quả tang sòng bạc đang đánh ăn thua bằng tiền: Qua Điều tra xác định gồm các đối tượng Danh Thanh T, Trần Thị D1, Thạch Thị N2, Nguyễn Thị T1, Lê Viết M2, Trần Thị Ú tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi đánh bài cào ba lá, số tiền thu tại chiếu bạc là 5.300.000 đồng. Nguyễn Thị N chuẩn bị chỗ và cung cấp bài, thu tiền xâu thu lợi bất chính 500.000 đồng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Danh Thanh T, Trần Thị D1, Thạch Thị N2, Nguyễn Thị T1, Lê Viết M2, Trần Thị Ú đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều là người trưởng thành, phải nhận thức rõ hành vi "Đánh bạc” trái phép bị nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tại nơi xảy ra vụ án và đây là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo trong vụ án:
Đối với bị cáo Nguyễn Thị N, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nên đã chuẩn bị địa điểm và bài cho các con bạc sát phạt nhau để thu lợi bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét mức án phù hợp mới mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Đối với bị cáo Danh Thanh T, vào năm 2018 đã từng vi phạm pháp luật và bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục vi phạm, tham gia đánh bạc. Bị cáo là người đứng ra làm cái để các con bạc khác tham gia đặt tụ sát phạt lẫn nhau, hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, bất chấp, khi lượng hình cân nhắc cho bị cáo mức án tương xứng.
Đối với bị cáo Trần Thị Ú, vào năm 2008 đã bị Toà án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng thù nhưng cho hưởng án treo. Lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo phải trở thành người tốt. Nhưng bị cáo lại không làm như vậy mà tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, nên cần phải xem xét xử phạt bị cáo một mức án nghiêm.
Đối với các bị cáo Trần Thị D1, Nguyễn Thi T3, Thạch Thị N2 và Lê Viết M2 là các con bạc tham gia đặt tụ, sát phạt lẫn nhau, mức độ cá cược ăn thua không lớn nên Hội đồng xét xử có thể xử phạt các bị cáo mức án theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ răn đe và ngăn ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo thể hiện tính ăn năn hối cải, các bị cáo Nguyễn Thị N, Trần Thị D1, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[6] Về Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự xét nên:
- + Tịch thu tiêu hủy: 53 (năm mươi ba) lá bài tây, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu, đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) hộp bài tây, chưa qua sử dụng; 08 (tám) vỏ bài tây đã qua sử dụng; 547 (năm trăm bốn mươi bảy) lá bài tây, đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu giữ tại chiếu bạc khi bắt quả tang 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng).
- + Buộc Thạch Thị N2 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), buộc Trần Thị D1 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Buộc Nguyễn Thị N giao nộp số tiền thu lợi bất chính trong 04 ngày là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
[7] Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình công việc của các bị cáo không ổn định. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[10] Xét thấy Đoàn Tuấn K1, Trần Út Đ1 khi bắt quả tang có mặt tại hiện trường nhưng không có tham gia đánh bạc. Phạm Thanh T2, Trương Anh K2, Đỗ Thế Trần Công L3 trước khi sòng bài bị bắt có tham gia đánh bài, tuy nhiên xét hành vi của các đối tượng chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự không đủ cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Riêng đối tượng tên “Giang Nảo”, “Vàng” Nguyễn Thị N khai có yêu cầu N lấy xâu tại chòi do N cất rồi cho tiền N xài. Đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào có đủ căn sẽ xử lý sau.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Danh Thanh TThị Ú, Trần Thị D1, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2 phạm tội "Đánh bạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho các bị cáo: Nguyễn Thị N, Trần Thị D1, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho các bị cáo: Danh Thanh T; Trần Thị Út .
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N mức án phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Danh Thanh T mức án phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ú mức án phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị D1 mức án phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Lê Viết M2 mức án phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T1 mức án phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Thạch Thị N2 mức án phạt tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.
2. Về Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên xử:
- + Tịch thu tiêu hủy: 53 (năm mươi ba) lá bài tây, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu, đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) hộp bài tây, chưa qua sử dụng; 08 (tám) vỏ bài tây đã qua sử dụng; 547 (năm trăm bốn mươi bảy) lá bài tây, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, theo biên bản giao nhận ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang và Chi Cục thi hành án huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang).
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu giữ tại chiếu bạc khi bắt quả tang 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng). theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.09044932.00000 ngày 10/11/2023 tại kho bạc nhà nước huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- + Buộc Thạch Thị N2 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), buộc Trần Thị D1 giao nộp số tiền dùng để đánh bạc là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Buộc Nguyễn Thị N giao nộp số tiền thu lợi bất chính trong 04 ngày là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
3. Về án phí hình sự Sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí án phí Tòa án.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Thị N, Danh Thanh T, Trần Thị D1, Trần Thị Ú, Nguyễn Thị T1, Thạch Thị N2, Lê Viết M2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thanh Toàn |
Bản án số 05/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Nhung cùng đồng bọn - Đánh bạc
