|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/DS - ST
Ngày: 22 tháng 5 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung
Bà Phạm Thị Ngọc Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 75/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXX-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1981, địa chỉ cư trú: Số nhà B, ngõ B, đường H, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969 và chị Vũ Thị T, sinh năm 1994; cùng địa chỉ cư trú: Số nhà F, đường P, phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa, có mặt bà H; vắng mặt: Bà L, chị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 11 năm 2023, Đơn xin sửa đổi yêu cầu khởi kiện ngày 01/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan H trình bày: Do có mối quan hệ quen biết nên bà H đã cho mẹ con bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T vay tiền 02 lần, lần 1 vào ngày 23/10/2021 cho vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm từ ngày 23/10/2021 đến ngày 23/10/2022, thỏa thuận không lãi suất. Lần 2 vào ngày 10/11/2021 cho vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm từ ngày 10/11/2021 đến ngày 10/11/2022, thỏa thuận không lãi suất. Số tiền cho vay là tài sản riêng của bà H. Sau khi hết thời hạn vay, bà H đã nhiều lần yêu cầu bà L, chị T trả tiền nợ theo đúng cam kết nhưng bà L, chị T không thực hiện. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc mẹ con bà L, chị T phải trả số tiền gốc là 130.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ. Bà L, chị T phải tiếp tục trả nợ lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
Tại bản tự khai ngày 12/11/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị L khai: Ngày 23/11/2021 bà L cùng con gái Vũ Thị T có vay của bà H số tiền 130.000.000 đồng, chia làm 02 lần: lần đầu 30.000.000 đồng, lần hai 100.000.000 đồng. Khi viết giấy vay tiền, bà H có nói là ghi vào giấy với lãi suất 0% nhưng thực tế bà H cho vay với lãi cao 3.000/01 triệu, bà H bắt chị T ký vào giấy vay tiền để bảo lãnh cho bà L. Bà L đã trả gốc và lãi cho bà H gần 02 năm. Do mấy tháng gần đây buôn bán khó khăn và lỗ vốn nên bà L không đủ khả năng trả lãi, xin khất trả dần gốc nhưng bà H không đồng ý. Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, bà L có bằng chứng đã trả tiền và sao kê ngân hàng 30.000.000 đồng hàng tháng trả 2.700.000 tiền lãi, 100.000.000 trả 9.000.000 đồng, trả vào ngày 23 hàng tháng, gốc thì cứ 10 ngày trả 20.000.000 đồng hoặc 10.000.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 12/11/2023, bị đơn chị Vũ Thị T khai: Ngày 23/10/2021 chị T có cùng mẹ là bà L lên nhà bà H để vay tiền, lần một 30.000.000 đồng, lần hai 100.000.000 đồng. Trong khi viết giấy vay tiền thì bà H có nói với bà L là phải có người bảo lãnh để vay tiền. Số tiền 130.000.000 đồng là mẹ chị đứng lên vay, chị T chỉ là người ký bảo lãnh. Lúc đầu bà H bắt chị viết giấy ghi là vay tiền về để mua xe và mua đồ dùng trong nhà với lãi suất 0%, nhưng thực tế bà H cho vay với lãi xuất cao 3.000/1 triệu. Mẹ chị đã trả lãi và gốc gần 02 năm. Vì lãi quá cao mẹ chị đã xin khất trả lãi dần nhưng bà H không đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T đến làm việc để lấy lời khai, giải quyết những vấn đề có liên quan đến vụ án, Thông báo thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc trả lãi, trả gốc cho bà H nhưng bà L, chị T không đến Tòa án làm việc theo nội dung triệu tập, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo nội dung thông báo của Tòa án.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T phải trả số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng, số tiền lãi tính đến ngày xét xử là 20.057.000 đồng và phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định về việc về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 5, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan H đối với bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Lan H số tiền 150.057.000 đồng, trong đó nợ gốc là 130.000.000 đồng, nợ lãi là 20.057.000 đồng đồng.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thi L1 và chị Vũ Thị T phải nộp số tiền án phí là 7.503.000 đồng. Bà H không phải nộp án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Lan H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thi L1 và chị Vũ Thị T phải trả số tiền vay theo thỏa thuận tại giấy vay nợ, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Thẩm quyền: Bị đơn bà Nguyễn Thi L1 và chị Vũ Thị T cư trú tại phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T, bà L, chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà Nguyễn Thị Lan H khởi kiện bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T yêu cầu trả nợ số tiền gốc và lãi theo giấy vay tiền ngày 23/10/2021 và ngày 10/11/2023.
Nội dung giấy vay tiền ngày 23/10/2021 thể hiện: Mẹ con bà Nguyễn Thị L, chị Vũ Thị T có vay của bà H số tiền là 30.000.000 đồng (không lãi xuất). Trong thời gian 01 năm kể từ ngày 23/10/2021 đến ngày 23/10/2022. Quá thời gian trên sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền là 30.000.000 đồng cho bà H. Cuối giấy vay, Nguyễn Thị L, Vũ Thị T ký, ghi rõ họ tên tại mục người vay tiền.
Nội dung giấy vay tiền ngày 10/11/2021 thể hiện: Chị Vũ Thị T và mẹ Nguyễn Thị L lấy thêm 100.000.000 đồng của bà H (trong thời hạn 1 năm đến ngày 10/11/2022 sẽ hoàn trả đủ (Không lãi suất). Dưới nội dung vay, Nguyễn Thị L, Vũ Thị T ký, ghi rõ họ tên.
Bà Nguyễn Thị Lan H khai sau khi vay tiền, hết thời hạn vay bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T không trả tiền nợ theo thỏa thuận tại các giấy vay tiền.
Tại bản tự khai ngày 12/11/2023, chị Vũ Thị T khai số tiền 130.000.000 đồng là do mẹ chị đứng lên vay, chị chỉ là người ký bảo lãnh. Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T cùng bà L lên nhà bà H vay tiền, chị T là người trực tiếp viết giấy vay tiền, nội dung 02 giấy vay tiền đều thể hiện mẹ con chị T, bà L vay tiền của của bà H, cuối mỗi giấy vay, chị T, bà L đều ký tên xác nhận. Chị T khai chị chỉ là người ký bảo lãnh cho mẹ là bà L vay tiền là không có căn cứ.
Bà L thừa nhận có vay của bà H số tiền 130.000.000 đồng vào ngày 23/10/2021 và ngày 10/11/2021, mặc dù trong giấy vay không ghi lãi suất nhưng thực tế bà H cho bà L vay với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, hàng tháng bà L đều trả gốc, lãi cho bà H. Chị T khai bà L đã trả gốc và lãi cho bà H gần 02 năm. Tòa án đã yêu cầu bà L, chị T giao nộp tài liệu chứng cứ chứng minh việc trả nợ gốc, lãi cho bà H nhưng bà L, chị T không giao nộp, do đó không có căn cứ xác định bà L, chị T đã trả nợ gốc, lãi cho bà H.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định, vào ngày ngày 23/10/2021 và ngày 10/11/2021 bà L, chị T và bà H có thỏa thuận về việc bà H cho bà L, chị T vay số tiền 130.000.000 đồng, không lãi xuất, và thỏa thuận cụ thể về thời hạn vay tại từng giấy vay tiền. Khi thỏa thuận bà L, chị T, bà H đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực pháp luật, có giá trị thi hành đối với các bên giao kết.
Đến thời hạn thanh toán bà L, chị T không trả tiền cho bà H là vi phạm thỏa thuận giữa hai bên vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu bà L, chị T phải trả số tiền gốc, tiền lãi chậm trả là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.3] Tại Giấy vay tiền đề ngày 23/10/2021 và ngày 10/11/2021 các bên thỏa thuận không lãi xuất, khi đến hạn bà L, chị T không trả nợ, bà H yêu cầu tính lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc là có căn cứ. Số tiền lãi xác định như sau:
Đối với số tiền vay 30.000.000 đồng ngày 23/10/2021: Thời gian chậm trả từ ngày 24/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 22/5/2024 là 577 ngày, số tiền lãi là: 30.000.000 x 0,027397%/ngày x 577 ngày = 4.742.420 đồng.
Đối với số tiền vay 100.000.000 đồng ngày 10/11/2021: Thời gian chậm trả từ ngày 11/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 22/5/2024 là 559 ngày, số tiền lãi là: 100.000.000 x 0,027397%/ngày x 559 ngày = 15.314.923 đồng.
Tổng số tiền lãi bà L, chị T phải trả đối với số tiền vay là: 20.057.343 đồng (Làm tròn là 20.057.000 đồng).
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự bằng 5% của giá trị tài sản tranh chấp, số tiền là 7.502.850 (Làm tròn là 7.503.000) đồng.
Bà Nguyễn Thị Lan H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 5, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan H đối với bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Lan H số tiền 150.057.000 (Một trăm năm mươi triệu, không trăm năm mươi bảy nghìn) đồng, trong đó nợ gốc là 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu) đồng, nợ lãi là 20.057.000 đồng (Hai mươi triệu, không trăm năm mươi bảy nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị L và chị Vũ Thị T phải nộp số tiền 7.503.000 đồng (Bẩy triệu, năm trăm không ba nghìn) đồng.
- - Bà Nguyễn Thị Lan H không phải nộp án phí, được hoàn lại số tiền 3.800.000 (Ba triệu tám trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000143 ngày 21/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Diệu Oanh |
Bản án số 05/2024/DS - ST ngày 22/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 05/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu mẹ con bà L, chị T phải trả số tiền gốc là 130.000.000 đồng, số tiền lãi quá hạn theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ và phải tiếp tục trả nợ lãi cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
