Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN L

TP Đ

--------*--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------*--------

Bản án số:05/2024/HS-ST
Ngày 10 tháng 1 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh N.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Văn S.
  2. Ông Vũ Ngọc T

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim T - Cán bộ Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đ tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Mạnh H - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 1 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận L – 02 Trương Văn Đa, phường N, quận L, thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 157/2023/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXX-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

* Lê Ngọc Đ - Sinh ngày 11.11.1995 tại Đ – Nơi thường trú : Tổ 129 Phường Hòa Minh, quận L, thành phố Đ - Hiện trú tại: Tổ 68, phường N, quận L, thành phố Đ - Quốc tịch : Việt Nam – Dân tộc : Kinh – Tôn giáo : Không - Nghề nghiệp: Không – Trình độ văn hóa: 09/12. Số căn cước công dân : [...], cấp ngày 08.5.2022 tại Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Con ông: Không rõ và bà Lê Thị H (s).

Tiền án: Ngày 14.5.2021 bị Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đ xử phạt 15 tháng tự về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16.3.2022.

Tiền sự: Ngày 26.12.2022 bị Công an phường N xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân :

  • Ngày 26.5.2017 bị Tòa án nhân dân quận L áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 15 tháng tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng.
  • Ngày 04.6.2018 bị Tòa án nhân dân quận L áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 18 tháng tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11 tháng 7 năm 2023, hiện có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

  • Ông Phan Văn T – Sinh năm 1988 – Trú tại : Tổ 52, phường M, quận L, thành phố Đ, vắng mặt.
  • Bà Trần Thị N – Sinh năm 1986 – Trú tại : 136 Nguyễn Đỗ Cung, phường M, quận L, thành phố Đ, vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Xuân Tr – Sinh năm 1984 – Trú tại : Lô 05 – B2 -2 đường Hòa Mỹ 6, phường Hòa Minh, quận L, thành phố Đ, vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Minh P – Sinh năm 1976 – Nơi thường trú : Thôn T, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, tỉnh P - Trú tại : Lô 05 – B2 -2 đường Hòa Mỹ 6, phường H, quận L, thành phố Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09h45 phút ngày 11.7.2023 tại phòng 205 Nhà nghỉ Song Cát, phường Hòa Minh, quận L, thành phố Đ, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường M tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang Lê Ngọc Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ : 01 gói nilong bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy ( Kí hiệu A); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn sim 0777.414.272; 01 hộp nhựa bên trong có 01 cân tiểu ly màu đen, 01 kéo bằng sắt, 03 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa màu trắng.

Ngày 19.7.2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đ có Bản kết luận giám định số 634/KL-KTHS kết luận : Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng là 2,623 gam.

Qua điều tra, từ lời khai của Lê Ngọc Đ, những người mua ma túy là Phan Văn Trần Thị N và các tài liệu, chứng cứ khác xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 09h00 phút ngày 08.7.2023, Lê Ngọc Đ liên hệ qua ứng dụng Telegram với một thanh niên tên Bi ( Không rõ nhân thân, lai lịch ) hỏi mua 2.000.000đ ma túy, hẹn giao dịch tại khu vực trước tượng ông Phật trên đường Tôn Đức Thắng, phường M, quận L, thành phố Đ. Đến khoảng 15h00 cùng ngày, Đ đi đến điểm hẹn gặp một thanh niên đeo khẩu trang không rõ lai lịch nhận 01 hộp giấy bên trong có 01 gói ma túy đá, 01 cân tiểu ly và thanh toán tiền mặt cho thanh niên này. Sau đó, Được đem ma túy và chia nhỏ ra để bán kiếm lời. Trong ngày 10.7.2023, Lê Ngọc Đ đã 03 lần bán ma túy cho các con nghiện, cụ thể :

  • Lần thứ nhất : Khoảng đầu giờ chiều ngày 10.7.2023, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Phan Văn T gọi vào số máy 0777.414.272 của Được hỏi mua 300.000đ ma túy, Đ đồng ý và đưa số tài khoản ngân hàng 0773490952 mang tên Lê Ngọc Đ mở tại Ngân hàng Quân đội để Thọ chuyển khoản 300.000đ tiền mua ma túy, sau khi T chuyển tiền thì Được hẹn giao ma túy tại khu vực đường Thích Quảng Đức, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, Được đi bộ đến và vứt cho Thọ 01 gói ma túy đá cuộn bên ngoài bằng giấy vệ sinh để Thọ mang về sử dụng.
  • Lần thứ hai : Với phương thức như trên vào khoảng 22h00 phút ngày 09.7.2023 và tối ngày 10.7.2023 tại trước nhà nghỉ Song Cát, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Lê Ngọc Được bán cho Trần Thị Ngoan 02 lần, mỗi lần 400.000đ ma túy đá để Ngoan mang về và sử dụng cá nhân hết. Một lần Ngoan đưa tiền mặt và 01 lần Ngoan chuyển khoản cho Được.

Số ma túy còn lại Được cất giấu để tiếp tục bán thì bị phát hiện như đã nêu trên. Tại Cơ quan điều tra, Lê Ngọc Được đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Xử lý tang vật:

Toàn bộ chất ma túy hoàn lại sau Giám định và các vật chứng bị cơ quan điều tra thu giữ gồm :

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung gắn sim 0777.414.272;
  • 01 hộp nhựa bên trong có 01 cân tiểu ly màu đen
  • 01 kéo bằng sắt
  • 03 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh
  • 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng
  • 01 nỏ thủy tinh
  • 01 nắp nhựa màu trắng

Tất cả vật chứng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu tạm thời bảo quản, chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 27.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Được về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

  • Bị cáo Lê Ngọc Được thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị :
    • Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Được phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
    • Áp dụng điểm b, khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Ngọc Được từ 08 ( Tám ) năm 06 ( Sáu ) tháng đến 09 ( Chín ) năm tự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
    • Về xử lý vật chứng : Đề nghị HĐXX căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:
      • Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong ( Ký hiệu A).
      • Tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm : 01 hộp nhựa bên trong có 01 cân tiểu ly màu đen, 01 kéo bằng sắt, 03 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa màu trắng.
      • Tuyên tịch thu sung công quỹ : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung gắn sim 0777.414.272 của Lê Ngọc Được.
      • Tuyên truy thu số tiền lợi nhuận có được do bán ma túy mà có của Được là 1.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau :

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy : Bị cáo Lê Ngọc Được đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau :

Khoảng 09h45 phút ngày 11.7.2023, tại Phòng nghỉ 205 Nhà nghỉ Song Cát, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Liên Chiểu phối hợp Công an phường Hòa Minh tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang Lê Ngọc Được đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,623gam ma túy Methamphetamine với mục đích để bán lại cho con nghiện kiếm lời. Trước đó, Được đã 01 lần bán ma túy cho Phan Văn Thọ, 02 lần bán ma túy cho Trần Thị Ngoan. Như vậy, Lê Ngọc Được phải chịu trách nhiệm về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng 2,623 gam ma túy Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa.

Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

3. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Lê Ngọc Được thì thấy :

Ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước cấm sử dụng; ma túy không những hủy hoại đến sức khỏe con người, gây thoái hóa nhân cách, làm rối loạn hành vi của người sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Trong thời gian gần đây, tình hình tội phạm về ma túy và người nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng diễn biến khá phức tạp, có chiều hướng gia tăng với nhiều cách thức, thủ đoạn tinh vi đã gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người dân. Chính vì vậy, công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm về ma túy được xem là một trong những chiến lược lâu dài của các cơ quan tư pháp trong thành phố nói chung. Do đó, HĐXX thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

4. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt thì thấy:

Đối với bị cáo Lê Ngọc Được là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để mua bán bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị, bị cáo biết hành vi của mình có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho người khác và xã hội, xâm phạm đến các mối quan hệ được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi cất giấu bất hợp pháp 2,623 gam chất ma túy Methamphetamine với mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy kiếm lời của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Ngoài ra bị cáo đã 03 lần bán ma túy nên thuộc trường hợp quy định tại tình tiết định khung “ Phạm tội 02 lần trở lên ”. Bản thân bị cáo đã bị kết án theo Bản án số 32/2021/HSST ngày 14.5.2021 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong án phạt tự vào ngày 16.3.2022, tuy nhiên theo Biên bản xác minh của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu thể hiện Lê Ngọc Được chưa chấp hành phần án phí hình sự sơ thẩm do đó thuộc trường hợp chưa được xóa án tích mà còn vi phạm theo quy định tại khoản 1 điều 53 Bộ luật hình sự “ Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý...”. Đây được xem là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 15 và 18 tháng tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng. Do đó HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo Lê Ngọc Được là đúng căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Ngọc Được có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải. Vì vậy, HĐXX cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo khi lượng hình nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

5. Về xử lý vật chứng : Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý như sau :

  • Đối với 01 phong bì giám định ma túy số 634/KL-KTHS ngày 19.7.2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là ma túy hoàn trả lại sau khi giám định, HĐXX xét thấy đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên cần thiết tuyên tịch thu và tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung gắn sim 0777.414.272 của Lê Ngọc Được. Quá trình điều tra, bị cáo Được sử dụng điện thoại này để liên lạc bán ma túy cho các đối tượng nghiện. Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần thiết tuyên tịch thu, sung công quỹ là phù hợp quy định của pháp luật.
  • Đối với các vật chứng : 01 hộp nhựa bên trong có 01 cân tiểu ly màu đen, 01 kéo bằng sắt, 03 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa màu trắng. HĐXX xét thấy đây là những vật chứng bị cáo Được sử dụng trong việc thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, là những vật cấm lưu hành và không có giá trị nên cần áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28.11.2023 và Quyết định chuyển vật chứng số 107/QĐ-VKS ngày 27.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Đà Nẵng.

Ngoài ra, trong vụ án có nam thanh niên tên Bi là người bán ma túy cho Lê Ngọc Được, hiện chưa xác định được lai lịch, họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Liên Chiểu đang tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau. Do đó HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này là có cơ sở.

Đối với Lê Ngọc Được, Trần Thị Ngoan có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an quận Liên Chiểu xử lý hành chính là có cơ sở nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Ngọc Được phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Được phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Được 09 ( Chín ) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy“. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11.7.2023.

  3. Căn cứ khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự:
  4. Tuyên xử phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Ngọc Được số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  5. Về xử lý tang vật : Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy hoàn trả lại sau giám định được niêm phong đựng trong phong bì số 634/KL-KTHS ngày 19.7.2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 hộp nhựa bên trong có 01 cân tiểu ly màu đen, 01 kéo bằng sắt, 03 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 nỏ thủy tinh và 01 nắp nhựa màu trắng.
    • Tuyên tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung gắn sim 0777.414.272 của Lê Ngọc Được.

    Các tang vật này hiện Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27.11.2023 và Quyết định chuyển vật chứng số 107/QĐ-VKS ngày 27.11.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Đà Nẵng.

  6. Về án phí : Căn cứ khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  7. Bị cáo Lê Ngọc Được phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
  9. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Đà Nẵng;
  • - VKSND TP.Đà Nẵng;
  • - Công an quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THS DS quận Liên Chiểu
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc Được
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger