Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 05/2023/HNGĐ-ST

Ngày 21 tháng 12 năm 2023

V/v xin ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Minh Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Việt
  2. Ông Cầm Văn Tổ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Lâm P, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố a, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc S, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tiểu khu b, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đào Lâm P trình bày như sau.

Chị và anh Hoàng Ngọc S kết hôn với nhau từ năm 2018, do cả hai cùng tự nguyện không bên nào bị ép buộc và có đi đăng ký kết hôn theo quy định và đã được UBND thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận vào ngày 27/12/2018, được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được 02 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung. Sau khi vợ chồng sảy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên bảo hòa giải nhưng chỉ được thời gian ngắn vợ chồng lại sảy râ mâu thuẫn. Anh Sơn đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Tiểu khu 11, thị trấn Hát Lót sinh sống, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, trong thời gian ly thân anh chị không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, không thể quay về tiếp tục cuộc sống vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sơn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 31/07/2019. Từ khi anh chị sống ly thân cháu Gia Hưng là do chị P chăm sóc và nuôi dưỡng. Nguyện Vọng của chị sau khi ly hôn mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu Gia Hưng cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Nếu được nuôi dưỡng chị không yêu cầu anh Sơn phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung vợ chồng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và giấy triệu tập cho bị đơn anh Hoàng Ngọc Sơn về địa chỉ Tiểu khu 11, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn. Tuy nhiên, anh Sơn không có mặt tại Tòa án làm việc và không gửi văn bản thể hiện ý kiến về việc chị Đào Lâm P xin ly hôn với anh. Tòa án đã tiến hành xác minh, xác định anh Hoàng Ngọc Sơn đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc. Căn cứ Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đinh anh Sơn và chính quyền địa P nơi anh Sơn sinh sống về nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung và tài sản chung, nợ chung của chị P và anh Sơn. Đồng thời, đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã biết việc Tòa án triệu tập nhưng không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Thị Lâm P và anh Hoàng Ngọc Sơn. Về con chung, giao cháu Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 31/07/2019 cho chị Đào Lâm P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề này. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Đào Lâm P có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh Hoàng Ngọc Sơn có địa chỉ tại: Tiểu khu 11, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án hôn nhân gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Qua xác minh xác định bị đơn đã biết được nội dung chị P xin ly hôn tại Tòa án, thời gian và địa điểm Tòa án triệu tập làm việc thông qua bố mẹ đẻ ở chung nhà nhưng bị đơn cố tình không có mặt tại Tòa án, không gửi văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm về việc khởi kiện cho Tòa án có căn cứ xem xét giải quyết vụ án. Trước phiên tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Ngọc Sơn.

[2] Về yêu cầu xin ly hôn:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Đào Lâm P và anh Hoàng Ngọc Sơn tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2018, anh chị đã được UBND thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/12/2018 . Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh chị là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị P, mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống tính cách không hợp, hay sảy ra mâu thuẫn. Sau khi mâu thuẫn sảy ra anh chị đã được hai bên gia đình, hòa giải khuyên bảo, chỉ được thời gian ngắn vợ chồng lại tiếp tục sảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 2/2021 anh Sơn đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Qua xác minh tại Ban quản lý Tiểu khu 11 nơi anh Sơn sinh sống xác định: chị P anh Sơn sau khi kết hôn chung sống với bố mẹ chồng tại tiểu khu 11, thị trấn Hát Lót trong thời gian sinh sống ở tiểu khu 11 anh chị cũng không có mâu thuẫn gì lớn cần sự can thiệp của ban quản lý tiểu khu. Tuy nhiên, chị P và anh Sơn không chung sống với nhau khoảng 02 năm. Đến năm 2021 chị P chuyển công tác từ huyện Yên Châu vào huyện Sông Mã công tác, anh Sơn chuyển vào sinh sống cùng chị P, trong quá trình sinh sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh Sơn bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tiểu khu 11, thị trấn Hát Lót, huyện Mai Sơn sinh sống. Việc chị P xin ly hôn anh Sơn, anh Sơn có biết nhưng hiện nay đang đi làm ở Mộc Châu nên không có mặt tại Tòa án. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh Sơn đã biết chị P xin ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, chị P cương quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, trong thời gian sống ly thân anh chị không còn quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Lâm P, xử cho chị P được ly hôn với anh Hoàng Ngọc Sơn.

[2.2] Về con chung: Các tài liệu chị P cung cấp và xác định của gia đình anh Sơn khẳng định trong thời gian hôn nhân, chị P và anh Sơn có 01 con chung là cháu Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 31/7/2019. Trong thời gian ly thân, cháu Hưng sống cùng chị P và ông bà ngoại ở Sông Mã. Nội dung này được đại diện ban quản lý tiểu khu và đại diện gia đình anh Sơn khẳng định. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử, xét thấy chị P là cán bộ bưu chính huyện Sông Mã có công việc, thu nhập ổn mỗi tháng là 11.000.000đ/ 1 tháng. Anh Sơn làm lao động tự do công việc không ổn định và không thường xuyên có mặt ở gia đình, để đảm bảo quyền lợi cho cháu cần giao cháu cho chị P nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận việc chị P không yêu cầu anh Sơn phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khẳng định không có tài sản chung và nợ chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề này. Qua xác minh cũng xác định anh chị không có tài sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp và có người khởi kiện thì sẽ được Tòa án xem xét, giải quyết ở một vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Chị P chịu án phí xin ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Lâm P và anh Hoàng Ngọc Sơn.
  2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia Hưng, sinh ngày 31/07/2019 cho chị Đào Lâm P trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động). Anh Sơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P do chị P không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, anh Sơn được quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Sơn được thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có. Nếu sau này có tranh chấp và có người khởi kiện thì sẽ được Tòa án xem xét, giải quyết ở một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị Đào Lâm P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền Tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000209 ngày 06 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Mai Sơn;
  • - Các đương sự.
  • - UBND thị trấn Sông Mã ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Minh Quân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2023/HNGĐ-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về xin ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 05/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: xin ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger