|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST Ngày 10/01/2026 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Hữu Hiển
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đức Hùng
2. Ông Đàm Công Lưu
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Mai Hương Giang - Thư ký Tòa án khu vực 7 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 10/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2003. (Có mặt)
- Trú tại: Thôn L, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
- Trú tại: Thôn L, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời khai tại Toà án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H kết hôn với anh Nguyễn Văn H1 vào ngày 25/02/2022 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, Y, Bắc Ninh (nay là Ủy ban nhân dân xã Y, Bắc Ninh).
Sau khi cưới, vợ chồng sống tại Thái Nguyên là nhà bố mẹ đẻ chị H. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống bất đồng, tính cách giữa chị H và anh H1 không hợp nhau. Trong quá trình chung sống, chị H và anh H1 hay xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến rạn nứt tình cảm không thể hàn gắn được. Năm 2023 anh H1 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị xử phạt 17 (mười bảy) tháng tù. Từ thời điểm đó chị H và anh H1 đã sống ly thân đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin ly hôn anh H1.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, chị H.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, nên Tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Tòa án kết hợp với Công an xã Y, tỉnh Bắc Ninh đến nhà anh H1 để thu thập ý kiến, lời khai của anh H1 nhưng anh H1 không có nhà. Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị H2 là mẹ đẻ của anh H1. Bà H2 trình bày: Hiện nay anh H1 đi làm ăn xa không mấy khi liên lạc về nhà. Bà H2 công nhận lời khai của chị H về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn là đúng.
Về tình cảm vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2024, anh H1 đi chấp hành án thì chị H bay về nhà ngoại là nhà bố mẹ đẻ chị H để ở. Bà H2 xác định trong thời gian chung sống, chị H, anh H1 có xảy ra mâu thuẫn nhưng cụ thể mâu thuẫn như thế nào thì bà H2 không rõ.
Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không có.
Vì vậy, việc chị H xin ly hôn anh H1, bà H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
*Qua xác minh tại Công an xã Y: Năm 2023 anh H1 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị xử phạt 17 (mười bảy) tháng tù theo Bản án số 161/2023/HSST ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đến ngày 21/12/2024, anh H1 đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 1768/GCN của Trại giam N. Hiện nay anh H1 vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, tuy nhiên từ sau khi chấp hành xong án anh H1 không đến Công an xã Y để trình diện.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, Luật hôn nhân gia đình.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 trú tại thôn L, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, do vậy Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H1 theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 25/02/2022 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, Y, Bắc Ninh (nay là Ủy ban nhân dân xã Y, Bắc Ninh). Việc kết hôn đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh H1 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh H1 qua người thân của anh H1 thể hiện trong quá trình chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn, chị H và anh H1 sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo anh H1 đến Tòa án để trình bày ý kiến quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh H1 đều vắng mặt và cũng không có tác động gì để hàn gắn cuộc hôn nhân.
Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân có hạnh phúc là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, cùng sống chung với nhau. Như vậy, mục đích hôn nhân của chị H và anh H1 không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Xử cho chị H được ly hôn với anh H1.
[3] Về con chung: Không có nên không đề cập xem xét.
Về tài sản chung, công nợ: Không có nên không đề cập xem xét.
[4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 239, 248, 260, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000980 ngày 02/10/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Hữu Hiển |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trương Văn Tiến Đào Thị Vân |
Tạ Hữu Hiển |
Bản án số 05/2026/HNGĐ-ST ngày 10/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 05/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hương - Hiển Ly hôn
