|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 25-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Nghiệp
Ông Đặng Văn Ấy
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng tham gia phiên toà:
Ông Bế Việt Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 17/9/1999 tại xã Y, tỉnh Cao Bằng; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Xóm N, xã Y, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Sán chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn D (sinh năm 1976) và bà Đặng Thị C (đã chết); vợ, con: Chưa có; gia đình bị cáo có bốn chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
- Tại bản án số 07/2022/HS-ST ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt Lý Văn H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại bản án số 08/2022/HS-ST ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt Lý Văn H 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Bảo L - Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/01/1996 tại xã B, tỉnh Tuyên Quang; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Thôn N, xã B, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1961) và bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm: 1961); vợ, con: Chưa có; gia đình bị cáo có ba anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 138/QĐ-XPHC ngày 25/4/2019 của Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Nguyễn Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt: 750.000 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Bảo L - Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn H: Ông Bế Kim T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ; sinh năm: 1961; địa chỉ: Thôn N, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1; sinh năm: 1961; địa chỉ: Thôn N, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Tày: Ông Chè Văn D1; Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Xóm C, xã B, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 01/6/2025 tại xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm B, xã Y, tỉnh Cao Bằng), tổ công tác Công an xã T (nay là Công an xã Y), tỉnh Cao Bằng tiến hành kiểm tra hành chính đối với hai đối tượng đang di chuyển trên xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 23K1 - 109.22 theo đường liên xóm B hướng đi xóm B của xã Y do có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Qua kiểm tra xác định đối tượng điều khiển xe máy là Nguyễn Văn T; sinh năm 1996; HKTT: thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn N, xã B, tỉnh Tuyên Quang); đối tượng ngồi phía sau là Lý Văn H; sinh năm: 1999, HKTT: xóm N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm N, xã Y, tỉnh Cao Bằng). Khi bị phát hiện, đối tượng Lý Văn H đã
thả từ trên tay phải xuống yên xe máy 01 (một) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng có kích thước 5x7cm bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là heroine. Kiểm tra trên người Lý Văn H phát hiện và thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái: 03 xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 (một) lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng. Tại túi quần bên phải phía trước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Tại túi quần bên phải phía sau: số tiền 760.000 đồng. Tại túi quần bên trái phía sau: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước 7x17cm.
Kiểm tra trên người của Nguyễn Văn T phát hiện và thu giữ: Tại túi quần bên phải phía trước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1807, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Tại túi quần bên trái phía trước: 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.
Kiểm tra chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 23K1-109.22, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa người vi phạm về trụ sở Công an xã T, tỉnh Cao Bằng để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Ngày 01/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp với Cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong vật chứng vụ án, cân xác định toàn bộ khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn H và Nguyễn Văn T có khối lượng 0,16 gam (Không phẩy mười sáu gam).
Ngày 02/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra quyết định trưng cầu giám định số: A99/QĐ-VPCQCSĐT. Tại bản kết luận giám định số: 254/KL-KTHS, ngày 09/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroin (Heroine).
Tại cơ quan điều tra Lý Văn H và Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 01/6/2025, Lý Văn H sử mạng xã hội Facebook nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Nguyễn Văn T đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng và được T đồng ý. Sau khi trao đổi, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 23K1-109.22 từ nhà đi đến xóm N, xã Y, tỉnh Cao Bằng để đón H. Khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, cả hai đến thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng (nay là trung tâm xã B, tỉnh Cao Bằng), tại đây H đưa cho T 8.000 đồng và nói đi mua xi lanh kim tiêm và nước cất để chuẩn bị sử dụng ma túy và được T đồng ý. T cầm tiền vào hiệu thuốc mua được 02 xi lanh kim tiêm và 02 lọ nước cất rồi để trên người. Sau đó, H và T vào quán uống nước ở cổng bến xe khách huyện B, uống nước xong T lấy 01 chai nước lọc để ở giá đỡ trước
xe máy (Hèng trả tiền), đi đến cây xăng H2 đổ xăng xe máy của T hết số tiền 50.000 đồng, T chở H đi khoảng 01 giờ đồng hồ thì đến xóm K, xã N. Cả hai đi theo đường dân sinh đến một khe nước thì dừng lại, cùng nhau đi bộ theo khe nước khoảng 25 mét thì gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là Đ1 đang bán ma túy tại đây. Lý Văn H bảo T chờ ở cạnh đó, còn H tự một mình vào mua ma túy với Đ1, qua trao đổi H mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi có được ma túy, H và T được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Khi vừa mua ma túy xong tại xóm K, xã N, tỉnh Cao Bằng, H bảo T quay lại theo khe nước suối khoảng 10 mét, T đem 02 xi lanh kim tiêm và 01 lọ nước cất đã đem theo trước ra để chuẩn bị sử dụng ma túy, còn 01 lọ nước cất T đã vứt ở đây. Hèng mở gói Heroine trích ra một phần cho vào 01 ống xi lanh kim tiêm rồi hút nước cất vào trong ống xi lanh lắc đều, sau đó H chia dung dịch Heroine đã pha chế sang 01 xi lanh kim tiêm khác và đưa cho T sử dụng bằng hình thức chích, còn xi lanh chứa dung dịch ma túy thì H tự sử dụng bằng hình thức chích. Sử dụng xong, H tự cầm xi lanh kim tiêm, đồng thời gói số ma túy còn lại trong gói giấy cũ và cầm trên tay rồi cùng T đi về. Trên đường về, T đã vứt xi lanh kim tiêm vừa sử dụng ma túy.
- Lần thứ hai: Khi cả hai về đến xóm C, xã B thì T nói muốn tiếp tục sử dụng số ma túy còn lại nên cả hai dừng xe đi lên trên đường, H mở gói ma túy ra còn T lấy 01 chiếc kim tiêm (T mang theo từ nhà) tự pha chế với nước lọc (Hèng mua ở xã B) rồi sử dụng bằng hình thức chích, còn H cũng lấy một ít ma túy cho vào xi lanh kim tiêm (do T mua đã được sử dụng 01 lần tại xóm K) để pha với nước lọc và sử dụng bằng hình thức chích rồi gói số ma túy còn lại như cũ.
Sau khi sử dụng xong H cầm gói ma túy trên tay và vứt xi lanh kim tiêm ở đây, còn T vẫn cầm theo xi lanh đã sử dụng với mục đích để tiếp tục sử dụng, việc H cầm gói ma túy trên tay T biết và nhìn thấy. Khi về đến xóm B, xã Y, tỉnh Cao Bằng thì H vào quán T2 xi lanh kim tiêm và 01 lọ nước cất. Đến xóm N, xã Y, cả hai bị tổ công tác Công an xã Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại có khối lượng 0,16gam.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSKV5 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng truy tố Lý Văn H và Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình, nhất trí với khối lượng ma túy cũng như kết luận giám định số ma tuý thu giữ. Cả hai bị cáo đều nghiện ma tuý, mục đích mua ma tuý về sử dụng. Bị cáo H là người
trực tiếp bỏ tiền ra mua ma túy, xi lanh và nước cất. Còn bị cáo T do được bị cáo H hứa hẹn sẽ cho cùng sử dụng ma túy nên đã dùng xe máy chở bị cáo H đi mua ma túy, lấy tiền với H và trực tiếp đi mua, chuẩn bị xi lanh và nước cất để cùng H sử dụng trái phép chất ma túy. Hai bị cáo được tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần. Số ma túy còn lại bị bắt quả tang và thu giữ mục đích để sử dụng, không có mục đích khác. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận về hành vi của mình.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Lý Văn H, Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Lý Văn H: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với hai bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ma túy mặt trước ghi: “Số 254/KL-KTHS hoàn lại mẫu sau giám định vụ: Lý Văn H, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C"; 03 xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 7x17cm; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước 5x7cm; 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng;
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX FI, màu đỏ đen, biển số: 23K1 - 109.22, loại xe hai bánh từ 50 - 175cm³, dung tích: 109.2cm³, xe đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1807, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn H số tiền 760.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo Lý Văn H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị xin miễn án phí nên bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo quy định.
Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo Lý Văn H trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, nguyên nhân phạm tội, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như sau: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, trình độ học vấn 6/12. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo T, chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 23K1-109.22 là tài sản của ông, đăng ký xe máy đứng tên ông. Ngày 01/6/2025 T nói với ông mượn xe máy của ông để đi chơi, ông đồng ý. Ông Đ không biết T sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chiếc xe là phương tiện đi lại hằng ngày của ông, nay ông đề nghị Tòa án xem xét trả lại chiếc xe máy trên cho ông.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo T, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1807, màu đen, màn hình cảm ứng là tài sản của bà mua từ tháng 7/2024 dùng để liên
lạc hằng ngày. Ngày 01/6/2025 T nói với bà mượn điện thoại của bà để đi chơi, bà đồng ý. Bà H1 không biết T sử dụng chiếc điện thoại để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chiếc điện thoại di động bà dùng để liên lạc cá nhân hằng ngày, nay bà đề nghị Tòa án xem xét trả lại chiếc điện thoại cho bà.
Tại phần tranh luận, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận, đối đáp. Đại diện Viện kiểm sát tranh luận trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H khai nhận biết rõ ma túy là chất mà Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và sử dụng nhưng vì nhu cầu của bản thân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm mặc dù bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lý Văn H. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo Lý Văn H và Nguyễn Văn T đều trình bày các bị cáo cảm thấy rất ăn năn, hối hận, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung hình phạt của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận kết luận điều tra và bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng với hành vi vi phạm pháp
luật của mình. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Lý Văn H và Nguyễn Văn T đều là đối tượng nghiện ma tuý, loại Heroine. Ngày 01/6/2025, bị cáo H rủ bị cáo T dùng xe máy chở H đi mua ma túy, có hứa hẹn cho T sử dụng ma túy và được T đồng ý. Trên đường đi mua ma túy, bị cáo H đưa tiền cho bị cáo T trực tiếp đi mua xi lanh và nước cất với mục đích chuẩn bị sẵn khi mua được ma túy sẽ cùng nhau sử dụng luôn. Đến địa phận xóm K, xã N, tỉnh Cao Bằng bị cáo H mua 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi có được Heroine, trên đường về hai bị cáo cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất tại xóm K, xã N, tỉnh Cao Bằng: Bị cáo H khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo T đem 02 xi lanh kim tiêm và 01 lọ nước cất đã đem theo trước ra để chuẩn bị sử dụng ma túy, còn 01 lọ nước cất T đã vứt ở đây. Bị cáo H mở gói Heroine trích ra một phần cho vào 01 ống xi lanh kim tiêm rồi hút nước cất vào trong ống xi lanh lắc đều, sau đó H chia dung dịch Heroine đã pha chế sang 01 xi lanh kim tiêm khác và đưa cho T sử dụng bằng hình thức chích, còn xi lanh chứa dung dịch ma túy thì H tự sử dụng bằng hình thức chích
- Lần thứ hai tại xóm C, xã B, tỉnh Cao Bằng: Bị cáo T khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy và được H đồng ý. Bị cáo H mở gói ma túy ra còn T lấy 01 chiếc kim tiêm (T mang theo từ nhà) tự pha chế với nước lọc (Hèng mua ở xã B) rồi sử dụng bằng hình thức chích, còn H cũng lấy một ít ma túy cho vào xi lanh kim tiêm (do T mua đã được sử dụng 01 lần tại xóm K) để pha với nước lọc và sử dụng bằng hình thức chích.
Trên đường quay trở về, khi đến xóm N, xã Y, tỉnh Cao Bằng, Lý Văn H và Nguyễn Văn T bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng.
Khi thực hiện hành vi, các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 2 lần trở lên;
...”
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, không có mâu thuẫn giữa lời khai của hai bị cáo, phù hợp với các vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình tự thủ tục tố tụng có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy Cáo trạng số 30/CT-VKSKV5 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Cao Bằng truy tố các bị cáo Lý Văn H và Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình nên cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo H là người dân tộc thiểu số (dân tộc Sán chỉ) sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử nhận định cho bị cáo H hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo H từng bị xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, 09 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo T từng bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nghiện ma túy. Theo
phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 01/6/2025 của Công an xã T xác định cả hai bị cáo đều dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.
[4] Về quyết định hình phạt:
- Về hình phạt chính: Các bị cáo đều nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt rất nghiêm khắc loại tội phạm về ma tuý, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Trong vụ án xác định các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng với vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H là người trực tiếp rủ rê bị cáo T, bỏ tiền ra mua ma túy, trực tiếp trao đổi mua ma túy, bỏ tiền ra mua xi lanh và nước cất để cùng bị cáo T sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T ở cả hai tội danh. Đối với bị cáo T tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án, do được bị cáo H hứa hẹn sẽ cho sử dụng ma túy nên đã dùng xe máy chở bị cáo H đi mua ma túy, trực tiếp đi mua xi lanh và nước cất theo sự chỉ huy của H, chuẩn bị xi lanh và nước cất để cùng sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo H nên bị cáo T sẽ chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo H ở cả hai tội danh. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bản thân các bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, các bị cáo đi chấp hành án không có điều kiện về kinh tế vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền đối với các bị cáo.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với các vật chứng: 03 xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 7x17cm; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước 5x7cm; 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng xác định liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
- Đối với số tiền 760.000 đồng thu giữ của bị cáo Lý Văn H xác định là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu xanh, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lý Văn H xác định điện thoại bị cáo dùng để liên lạc trao đổi đi mua ma tuý nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1807, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1 cho bị cáo T mượn điện thoại để sử dụng vào ngày 01/6/2025, bà H1 không biết bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi vi phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc điện thoại trên cho bà. Xét thấy việc trả lại điện thoại cho bà H1 là có căn cứ, phù hợp nên cần được chấp nhận.
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX FI, màu đỏ đen, biển số: 23K1 - 109.22, xe đã qua sử dụng xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ cho bị cáo T mượn xe máy để sử dụng vào ngày 01/6/2025, ông Đ không biết bị cáo sử dụng chiếc xe máy để thực hiện hành vi vi phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy cho ông làm phương tiện đi lại hằng ngày. Xét thấy việc trả lại xe máy cho ông Đ là có căn cứ, phù hợp nên cần được chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo Lý Văn H là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[8] Về vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo Lý Văn H khai được mua với một người đàn ông tên “Đ1”, không biết rõ tên thật và địa chỉ, khi mua không có ai biết và chứng kiến, quá trình xác minh tại địa phương không có người nào tên Đ1 như các bị cáo miêu tả, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lý Văn H, Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo Lý Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 01/6/2025.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 01/6/2025.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 phong bì thư niêm phong ma túy mặt trước ghi: “Số 254/KL-KTHS hoàn lại mẫu sau giám định vụ: Lý Văn H, Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C";
- 03 xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng;
- 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3% chưa qua sử dụng;
- 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 7x17cm;
- 01 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước 5x7cm;
- 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng;
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862326054954413, số IMEI 2: 862326054954405, thời điểm giao nhận không kiểm tra được số IMEI;
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn H số tiền 760.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), tiền Ngân hàng N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0.1054207.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước khu vực VII - Phòng nghiệp vụ 2;
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1807, màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 864287047684533, số IMEI 2: 864287047684525;
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX FI, màu đỏ đen, biển kiểm soát 23K1-109.22, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, dung tích xi lanh: 109,2cm³, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2022, số khung: RLHJA3845NY144789, số máy: JA52E0456326, xe cũ đã qua sử dụng (có 01 chìa khóa xe kèm theo). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C thu giữ giấy đăng ký của xe mô tô nói trên. Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 17/9/2025 của Công an xã B, tỉnh Cao Bằng.
Vật chứng trên hiện đang được lưu kho và bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 25 ngày 06 tháng 10 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Cao Bằng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Lý Văn H được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nông Văn Nghiệp |
Vũ Thị Hồng Thảo |
|
Đặng Văn Ấy |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng Thảo |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CAO BẰNG về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lý Văn H, Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
