TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày: 23-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh.
Ông Phạm Văn Chữ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn:
1. Ông Lê Thế T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
2. Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố M, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1989 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Ông Chu Văn K, sinh năm 1975 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Văn N, ông Chu Văn K: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(theo Giấy ủy quyền ngày 25/3/2025).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2024, bản tự khai và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn bà Đỗ Thị H trình bày:
Bà và vợ chồng ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 có quen biết từ lâu, bố mẹ ông T có quen biết với gia đình bà. Năm 2024, ông T, bà H1 có đến nhà bà để vay tiền, mục đích vay tiền thì ông T, bà H1 bảo là để kinh doanh, làm ăn, chỉ vay nóng 01 tháng là trả tiền. Do có quen biết từ trước và nhiều lần ông T, bà H1 đến hỏi vay nên bà cũng đồng ý cho vợ chồng ông T, bà H1 vay tiền. Cụ thể Ngày 20/6/2024, vợ chồng ông T, bà H1 có hỏi vay bà số tiền 2.000.000.000 đồng, hẹn thời hạn là 03 tháng sẽ thanh toán (từ ngày 20/6/2024 đến ngày 20/9/2024). Số tiền 2.000.000.000 đồng được chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Văn N (là cháu của bà) vào tài khoản ngân hàng của anh Lê Thế T. Sau đó bà và bà H1 đến Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1 để giao kết hợp đồng. Bà và bà H1 thống nhất ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng này.
Đến ngày 19/7/2024, bà và vợ chồng ông T, bà H1 thỏa thuận về việc làm lại hợp đồng. Do thực tế số tiền vay ngày 20/6/2024 là nợ chung của vợ chồng ông T, bà H1 nhưng chỉ có một mình bà H1 ký tên trong hợp đồng vay tiền ngày 20/6/2024 là chưa đảm bảo. Đồng thời ông T, bà H1 vay tiếp của bà thêm 300.000.000 đồng nữa. Bà đồng ý cho vay thêm và giao đủ cho ông T, bà H1 300.000.000 đồng. Sau khi giao tiền, bà cùng vợ chồng ông T, bà H1 thống nhất đến Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1 để giao kết hợp đồng vay tiền ngày 19/7/2024. Số tiền vay 2.300.000.000 đồng, trong đó: 2.000.000.000 đồng chuyển khoản, 300.000.000 đồng tiền mặt. Thời hạn vay là từ ngày 19/7/2024 đến ngày 20/9/2024 (hai tháng). Lãi suất theo thỏa thuận của hai bên. Ông T, bà H1 tự nguyện ký tên, điểm chỉ vào từng trang của hợp đồng, ông bà cũng đã đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, có ký tên, điểm chỉ vào từng trang. Hợp đồng đã được công chứng viên xác thực.
Đến hạn trả nợ, ông T bà H1 chưa trả được tiền nợ cho bà. Ngày 11/5/2025, bà H có lời khai trình bày bà có nhận của ông T 90.000.000 đồng, số tiền này bà trừ vào tiền nợ gốc. Nay đã quá thời hạn trả nợ, bà có nhu cầu sử dụng số tiền trên nên đề nghị Tòa án buộc ông T, bà H1 phải trả bà số tiền nợ gốc là 2.210.000.000 đồng và lãi suất của số tiền 2.210.000.000 đồng, tính từ ngày 21/9/2024 đến ngày giải quyết, xét xử xong vụ án, mức lãi suất là 10%/năm.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2025, bị đơn ông Lê Thế T trình bày:
Tháng 6/2024, vợ chồng ông có hỏi vay tiền của bà Lê Thị H2, do bà với vợ chồng ông có quen biết từ trước, là hàng xóm của nhau, do vậy khi vợ chồng ông cần tiền để làm ăn đầu tư thì có hỏi vay của bà H2 2.000.000.000 đồng bà H2 đồng ý và có chuyển cho ông số tiền 2.000.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của ông, ông T xác nhận đã nhận đủ số tiền 2.000.000.000 đồng của bà H2 chuyển. Mục đích vay của ông là trước đây có mối làm ăn quen biết cùng rủ bà H2 làm ăn chung. Tuy nhiên sau khi vay tiền của bà H2 thì công việc làm ăn của vợ chồng ông không thành công nên vợ chồng ông chưa thể trả tiền cho bà H2 được đến tháng 7 năm 2024, vợ chồng ông cùng bà H2 đến văn phòng công chứng ở thị trấn Đ để lập giấy vay tiền, vợ chồng ông và bà H2 lập biên nhận ghi số tiền là 2.300.000.000 đồng, tuy nhiên ông xác định vợ chồng chỉ được nhận 2.000.000.000 đồng tiền chuyển khoản còn 300.000.000 đồng tiền mặt thì vợ chồng ông không được nhận.
Nay bà H2 khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả 2.300.000.000 (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng thì ông chỉ nhất trí trả 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng là số tiền ông được nhận qua chuyển khoản, còn 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng tiền mặt thì ông không nhận nên ông không nhất trí trả.
Ông xác định đã trả cho bà H2 khoảng 120.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng, số tiền cụ thể chính xác ông không nhớ, ông sẽ cung cấp cho Tòa án sao kê sớm nhất. Hiện nay do hoàn cảnh rất khó khăn nên ông chưa thể trả nợ ngay cho bà H2 được, còn vợ ông là bà Phạm Thị H1 đang phải chăm sóc mẹ đẻ của bà H1 ở bệnh viện nên vợ chồng ông không có thời gian lao động kiếm tiền trả nợ.
* Đối với bị đơn là bà Phạm Thị H1: Tòa án đã trực tiếp đến nơi cư trú, tiến hành giao, niêm yết các văn bản tố tụng để bà H1 đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử liên quan nhưng bà H1 đều không đến Tòa án làm việc, không cung cấp cho Tòa án bất kỳ văn bản tài liệu giấy tờ gì. Do vậy, Tòa án không thu thập được quan điểm của bị đơn bà Phạm Thị H1 đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Tại bản tự khai ông Chu Văn K trình bày: Ông là chồng của bà Đỗ Thị H, còn vợ chồng ông Lê Thế T, chị Phạm Thị H1 có quen biết từ lâu, bố mẹ ông T có quen biết với gia đình ông. Năm 2024, ông được biết vợ chồng ông T, bà H1 có hỏi vay vợ ông là bà H số tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm triệu đồng). Tuy nhiên, việc vay mượn chỉ có vợ ông và vợ chồng anh T, bà H1 giao kết hợp đồng với nhau. Ông được biết sự việc là do vợ ông kể lại chứ ông không tham gia giao kết hợp đồng. Số tiền 2.300.000.000 đồng là tiền của riêng cá nhân vợ ông, không phải tiền chung của vợ chồng. Nay bà H khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông T, bà H1 phải trả bà H số tiền nợ gốc 2.300.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh thì ông hoàn toàn nhất trí với ý kiến của bà H, ông không có yêu cầu gì.
2. Tại bản tự khai anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh là cháu của ông Chu Văn K, bà Đỗ Thị H; còn ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 không có quan hệ gì. Ngày 20/6/2024, bà Đỗ Thị H có nhờ anh chuyển số tiền 2.000.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng N2 vào tài khoản của ngân hàng V (sau này anh mới biết là chủ tài khoản là ông Lê Thế T). Do tài khoản ngân hàng của bà H không có đủ số tiền nên đã nhờ anh chuyển khoản. Sau đó bà H cũng đã đưa đủ số tiền 2.000.000.000 đồng cho anh. Còn việc vay mượn tiền cụ thể giữa bà H và ông T, bà Hạ thế N1 thì anh không biết. Anh không có yêu cầu gì đối với bà H, ông T hay bà H1. Vì lý do công việc anh xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Đỗ Thị H xác nhận đã được nhận số tiền 90.000.000 đồng từ ông T, bà H1. Bà đồng ý trừ số tiền 90.000.000 đồng vào tiền nợ gốc. Do vậy, tại phiên tòa, bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ yêu cầu ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 phải trả số tiền gốc còn nợ là 2.210.000.000 đồng (Hai tỷ, hai trăm mười triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử với lãi suất là 10%/năm = 166.961.000 đồng.
Bị đơn ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, để tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H. Buộc Ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 phải trả cho bà Đỗ Thị H số tiền gốc còn nợ là 2.210.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm mười triệu đồng) và số tiền lãi tính từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/6/2025 là 09 tháng 02 ngày x 0.83%/tháng = 166.961.000 đồng (Một trăm sáu sáu triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 2.376.961.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm bảy mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Ngoài ra còn đề nghị về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Đỗ Thị H khởi kiện Ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 về việc thanh toán khoản tiền vay 2.300.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 19/07/2024 (dương lịch), đến nay ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 vi phạm về việc thanh toán khoản nợ này. Ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 đều có nơi cư trú tại tổ dân phố M, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Theo Công văn số 693/QLXNC ngày 10/3/2025 của phòng Q – Công an tỉnh B xác định bà H1 đã xuất cảnh vào ngày 24/6/2024 qua cửa khẩu M (tỉnh Long An) hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tuy nhiên theo lời khai của bà H, ông T và các tài liệu khác trong vụ án đều xác định được ngày 19/7/2024 (sau thời điểm bà H1 xuất cảnh ngày 24/6/2024) bà H1 cùng chồng là ông T đã đến Văn phòng C để công chứng hợp đồng vay tiền giữa ông T, bà H1 với bà H. Sau khi các bên công chứng hợp đồng vay tài sản thì không có thông tin thể hiện bà H1 xuất cảnh. Như vậy, bị đơn bà Phạm Thị H1 đã có mặt tại Việt Nam trước khi Tòa án thụ lý vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Giao dịch dân sự giữa bà Đỗ Thị H và Ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 được xác lập vào năm 2024, thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành. Do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N và ông Chu Văn K vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, đồng thời người đại diện theo ủy quyền của anh N, ông K có mặt. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt những người này.
[4] Về việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa: Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu ông T, bà H1 phải trả bà số tiền nợ gốc là 2.300.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Tại phiên tòa, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông T, bà H1 phải trả bà số tiền nợ gốc là 2.210.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Hội đồng xét xử việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[5.1] Căn cứ các tài liệu do phía nguyên đơn xuất trình và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Đỗ Thị H và ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 có quan hệ quen biết với nhau. Hai bên có xác lập hợp đồng vay tiền vào ngày 19/7/2024 với số tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) trong đó 2.000.000.000 đồng là nhận theo hình thức chuyển khoản và 300.000.000 đồng được giao nhận bằng tiền mặt. Tại thời điểm ký kết hợp đồng vay nợ, các bên xác lập một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Theo nội dung hợp đồng vay tiền do ông T, bà H1 ký kết thể hiện thì đây là khoản vay có kỳ hạn và có thỏa thuận về lãi suất nhưng không xác định rõ về lãi suất được quy định tại Điều 463, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5.2] Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng: Bị đơn ông Lê Thế T thừa nhận ông T, bà H1 đã nhận của bà H số tiền 2.000.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của ông T. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, cần buộc ông T, bà H1 phải trả bà H số tiền 2.000.000.000 đồng.
[5.3] Đối với số tiền 300.000.000 đồng thì ông T không thừa nhận được vay số tiền này. Quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày ngày 19/7/2024, ông T, bà H1 đã đến nhà bà để vay thêm 300.000.000 đồng. Bà đã giao đủ 300.000.000 đồng cho ông T, bà H1. Sau đó, các bên mới đến Văn phòng C để giao kết Hợp đồng vay tiền ngày 19/7/2024. Hội đồng xét xử thấy việc giao kết hợp đồng vay tiền ngày 19/7/2024 giữa hai bên đương sự là tự nguyện. Tại Điều 2 của Hợp đồng vay tiền thể hiện rõ nội dung ông T, bà H1 vay của bà H số tiền 2.300.000.000 đồng. Tại Công văn phúc đáp của Công chứng viên Văn phòng C trình bày tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng, ông T, bà H1 có mặt, được đọc lại và đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng, tự nguyện ký tên. Ông T không đưa ra được chứng cứ nào khác chứng minh việc ông T, bà H1 không được nhận số tiền 300.000.000 đồng như thỏa thuận trong hợp đồng. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận ý kiến này của ông T và có căn cứ xác định bà H đã cho ông T, bà H1 vay 300.000.000 đồng. Do vậy, cần buộc ông T, bà H1 phải trả bà H số tiền 300.000.000 đồng.
[5.4] Quá trình giải quyết vụ án, ông T trình bày đã trả được bà H một khoản tiền nhưng không nhớ rõ là bao nhiêu tiền. Theo bảng sao kê ngân hàng mà ông T cung cấp cho Tòa án thì ông T đã chuyển khoản cho bà H hai lần, lần một chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào ngày 21/8/2024 (nội dung: Lê Thế T chuyển tiền lãi) và lần 2 chuyển số tiền 60.000.000 đồng vào ngày 20/7/2024 (nội dung: Lê Thế T chuyển tiền lãi món vay 2 tỷ). Tổng cộng 90.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà H cũng xác định ông T đã trả bà số tiền 90.000.000 đồng, số tiền này bà đồng ý đối trừ vào tiền nợ gốc. Do đó, bà xác định ông T, bà H1 chỉ còn nợ lại 2.300.000.000 đồng - 90.000.000 đồng = 2.210.000.000 đồng nợ gốc.
[5.5] Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để xác định vợ chồng ông T, bà H1 đã vay của bà H số tiền 2.300.000.000 đồng, ông T và bà H1 đã trả cho bà H 90.000.000 đồng nợ gốc; còn nợ bà H 2.210.000.000 đồng nợ gốc. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông T, bà H1. Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự, cần buộc ông T, bà H1 phải trả cho bà H số tiền là 2.210.000.000 đồng.
[6] Về yêu cầu tính lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Đỗ Thị H yêu cầu ông Lê Thế T và bà Phạm Thị H1 phải trả cho bà lãi suất 10%/năm tương đương 0,83%/tháng của khoản tiền gốc 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) chưa thanh toán kể từ ngày vi phạm đến ngày xét xử vụ án. Tại phiên tòa, bà Đỗ Thị H thay đổi yêu cầu tính nợ gốc, bà đề nghị tính lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng của khoản tiền gốc 2.210.000.000 đồng tính từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/6/2025.
Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn thì thấy: Tại hợp đồng vay tiền các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay nhưng không xác định rõ về lãi suất. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự tức là 10%/năm của khoản tiền vay. Do vậy, yêu cầu tính lãi suất là 0,83%/tháng tương đương với mức 10%/năm của bà H là phù hợp với quy định của pháp luật. Nay bà H yêu cầu ông T, bà H1 phải trả cho bà H số tiền lãi của số nợ gốc chưa thanh toán kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ là từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/6/2025 là 09 tháng 02 ngày là có căn cứ nên cần được chấp nhận. Cần buộc ông T, bà H1 phải có trách nhiệm trả số tiền lãi cho bà Hiền từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/6/2025 là 2.210.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 09 tháng 02 ngày = 166.961.000 đồng.
[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông T, bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả bà H theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp.
[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nghĩa vụ chịu án phí của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào
- - Các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị H: Buộc Ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 phải trả cho bà Đỗ Thị H số tiền gốc còn nợ là 2.210.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm mười triệu đồng) và số tiền lãi tính từ ngày 21/9/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 23/6/2025 là 166.961.000 đồng (Một trăm sáu sáu triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 2.376.961.000 đồng (Hai tỷ, ba trăm bảy mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về án phí:
Ông Lê Thế T, bà Phạm Thị H1 phải chịu 79.539.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả bà Đỗ Thị H số tiền 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003059 ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Ngọc Minh |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
