|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 05/2025/KDTM-ST Ngày: 28/5/2025 “Tranh chấp hợp đồng mua bán" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phú Lộc
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 12/2024/TLST-KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2025/QĐXXST-KDTM ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 400/2025/QĐST-KDTM ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty cổ phần P. Địa chỉ: Khu Công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công H, chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Mạch Chí T, sinh năm 1983, chức vụ: Trưởng vùng Đồng Bằng Sông C. Địa chỉ: Khu Công nghiệp T - phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Năm 2020 Công ty cổ phần P và H1 kinh doanh Trần Văn T1 (do ông Trần Văn T1 đại diện theo pháp luật – đính kèm giấy phép đăng ký kinh doanh) có ký hợp đồng mua bán số 171/PBHC/PB/ĐL-2020 ngày 20 tháng 08 năm 2020. Trong thời gian đầu từ khi kí hợp đồng mua bán và thanh toán của ông Trần Văn T1 (Hộ kinh doanh Trần Văn T1) diễn ra bình thường và đúng qui định của hợp đồng. Tuy nhiên, sau thời gian đó đến hiện nay ông Trần Văn T1 không thanh toán, mặc dù công ty có cử nhân viên đến làm việc trực tiếp nhiều lần và bản thân ông Trần Văn T1 cũng đã làm cam kết thanh toán nhưng vẫn không thực hiện đúng. Đến ngày 06/5/2024 số công nợ mà ông Trần Văn T1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần P là 245.507.250₫ (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, năm trăm lẻ bảy nghìn, hai trăm năm mươi đồng), trong đó 225.150.000 đồng tiền nợ gốc và 20.357.250 đồng tiền lãi quá hạn từ tháng 07/2023 đến tháng 04/2024.
Do đó Công ty cổ phần P yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trần Văn T1 (chủ Hộ kinh doanh Trần Văn T1) trả cho Công ty cổ phần P số tiền: 245.507.250₫ (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, năm trăm lẻ bày nghìn, hai trăm năm mươi đồng), trong đó 225.150.000 đồng tiền nợ gốc và 20.357.250 đồng tiền lãi quá hạn từ tháng 07/2023 đến tháng 04/2024. Đồng thời yêu cầu tính lãi phát sinh từ tháng 05/2024 đến khi có quyết định của Tòa án, Công ty cổ phần P không yêu cầu ông Trần Văn T1 phải thanh toán.
Quá trình chuẩn bị xét xử ông Trần Văn T1 vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên toà,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Mai Chí T2 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Trần Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Chủ tọa công bố đơn khởi kiện và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Thấy rằng, Công ty cổ phần P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn T1 trả số tiền mua Phân bón, Hóa chất chưa thanh toán. Công ty cổ phần P và ông Trần Văn T1 đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại về mua bán hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền: Thấy rằng, ông Trần Văn T1 có địa chỉ cư trú và địa chỉ kinh doanh tại huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả cho đương sự theo quy định. Do đó, Tòa án sẽ xem xét các tài liệu, chứng cứ này để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.4] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Mạch Chí T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trần Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Thấy rằng, nguyên đơn yêu cầu ông Trần Văn T1 trả số tiền 225.150.000 đồng cùng tiền lãi. Giữa ông Trần Văn T1 và nguyên đơn đã ký nhiều hợp đồng mua bán qua các năm như ngày 20/8/2020, ngày 02/01/2021, ngày 02/01/2022, ngày 02/01/2023, ngày 02/01/2024. Trong thời gian giao kết hợp đồng các bên đã thực hiện nhiều đối chiếu công nợ, trong đó B đối chiếu công nợ quý 4 năm 2023 và quý 01 năm 2024 thể hiện Hộ kinh doanh ông Trần Văn T1 còn nợ số tiền là 225.150.000 đồng mua Phân bón, Hóa chất. Quá trình chuẩn bị xét xử cũng như khi đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định ông Trần Văn T1 có mua phân bón, hóa chất của Công ty cổ phần P đến nay chưa thanh toán số tiền 225.150.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Khoản 1 Điều 50 Luật thương mại quy định về nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán như sau: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận”.
Từ những phân tích và quy định pháp luật trên, thấy rằng ông Trần Văn T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền nợ gốc là 225.150.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
[2.2] Xét yêu cầu về lãi, lãi suất nguyên đơn:
Điều 306 Luật Thương mại quy định quyền yêu cầu tính lãi do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Thấy rằng, khi thực hiện việc mua bán các bên có thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán là 0,75% một tháng. Do đó, yêu cầu tính lãi chậm thanh toán của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, đối với thời hạn tính lãi, thấy rằng Bảng đối chiếu công nợ quý 2 năm 2023 tính đến ngày 30/6/2023 ông T1 còn nợ số tiền 345.000.000 đồng; Bảng đối chiếu công nợ quý 3 năm 2023 ông T1 còn nợ 285.150.000 đồng; Bảng đối chiếu công nợ quý 4 năm 2023 thể hiện đến ngày 31/12/2023 ông T1 còn nợ 285.000.000 đồng, Bản đối chiếu công nợ quý 1 năm 2024 thể hiện số dư đầu kỳ 285.000.000 đồng có nghĩa là số nợ này của quý 4 năm 2023 và ông T1 trả được 60.000.000 đồng nên còn nợ 225.150.000 đồng. Từ các bảng đối chiếu công nợ trên có thể thấy rằng ông T1 nợ số tiền giảm dần đến khi đối chiếu công nợ là 225.150.000 đồng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì quá thời hạn thanh toán 02 tháng thì ông T1 phải chịu lãi suất 0,75% một tháng. Do đó, kể từ ngày đối chiếu công nợ ngày 30/6/2023 ông T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ và đã quá thời hạn 02 tháng như thỏa thuận. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi kề từ ngày 01/7/2023 đến khi thi hành án xong trên số tiền 225.150.000 đồng là số dư cuối thấp nhất của công nợ là có lợi cho bị đơn. Vì vậy, ông T1 phải trả tiền lãi như sau:
Tạm tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày xét xử 28/5/2024 là 697 ngày : 30 x 225.150.000 đồng x 0,75% = 39.232.387 đồng.
Đồng thời ông Trần Văn T1 còn phải tiếp tục trả lãi chậm trả kể từ ngày 29/5/2025 trên số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả hết nợ với mức lãi suất là 0,75% một tháng.
[3] Về án phí kinh doanh sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Thấy rằng, Công ty cổ phần P được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, Công ty cổ phần P được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.138.000 đồng; Ông Trần Văn T1 bị buộc trách nhiệm trả 264.382.387đ (Hai trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng) nên phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 13.219.000đ (Mười ba triệu hai trăm mười chín nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 50; Điều 306 Luật Thương mại;
- - Khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần P.
Buộc ông Trần Văn T1 chịu trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần P số tiền 264.382.387₫ (Hai trăm sáu mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng). Trong đó, số tiền nợ gốc là 225.150.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); tiền lãi là 39.232.387đ (Ba mươi chín triệu hai trăm ba mươi hai nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng).
Kể từ ngày 29/5/2025 ông Trần Văn T1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất 0,75% một tháng đến khi thi hành án xong.
- Về án phí:
Ông Trần Văn T1 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 13.219.000đ (Mười ba triệu hai trăm mười chín nghìn đồng).
Công ty cổ phần P không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm, Công ty cổ phần P được nhận lại 6.138.000₫ (Sáu triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006096 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Văn Hoà |
Bản án số 05/2025/KDTM-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 05/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
