TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày: 14/4/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trọng Thơi và ông Trần Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy (Số F đường Đ, phường P, thị xã H, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 (Ngân hàng TMCP S2); Địa chỉ trụ sở: Số G T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Quang T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S2 Chi nhánh H1 (Theo Văn bản ủy quyền số 406.1/2023/VBUQ-SHB ngày 19/7/2023). Địa chỉ chi nhánh: Số B đường L, phường V, quận T, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1982; ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1986; ông Hoàng Tùng L, sinh năm 1990 – là chuyên viên xử lý nợ; cùng địa chỉ: Số B đường L, phường V, quận T, thành phố H (Theo Giấy ủy quyền số 38/UQ-SHBHU ngày 23/10/2024). Đều có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn S1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã H, thành phố H; Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2024, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 trình bày:
Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có ký kết với Ngân hàng TMCP S2 (S3) Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018. Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đã nhận nợ vay tại Khế ước nhận nợ số: 01-132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 06/04/2018. Với số tiền vay là 250,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Đầu tư mua xe ô tô tải có mui nhãn hiệu THACO, số loại FRONTIER mới 100% để vận tải hàng hóa. Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 06/04/2018 đến ngày 06/04/2022). Lịch trả nợ gốc: Trả gốc vào ngày 10 hàng tháng, ngày trả gốc đầu tiên 10/05/2018. Lịch trả nợ lãi: Trả lãi vào ngày 10 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên 10/05/2018. Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất được áp dụng trong thời hạn 06 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 7,9%/năm; Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh lần đầu tiên là ngày 06/10/2018, các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 06/10/2018 và các lần tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 13 tháng trả lãi cao nhất khách hành cá nhân (KHCN) của S3 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay là 4,25%/năm. Lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, bên vay phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Lãi chậm trả: Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn thì bên vay phải trả lãi chậm trả cho Bên cho vay theo mức lãi suất chậm trả quy định của Bên cho vay tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đã đồng ý thế chấp tài sản bảo đảm là: Một xe ô tô tải có mui. Nhãn hiệu: THACO, Số loại: FRONTIER - Biển số: 75C – 084.47, Số khung: 00AKHC066712, Số máy: JT734106, Màu: xanh. Theo giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 019691 do Phòng C2, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 02/04/2018 (Đăng ký lần đầu ngày 02/04/2018) do bà Nguyễn Thị C đứng tên đăng ký. Căn cứ theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 132/2018/HĐTC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018 giữa ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C với Ngân hàng TMCP S2 đã được công chứng tại văn phòng C3, tỉnh Thừa Thiên Huế theo số công chứng 000887, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/04/2018, tài sản được đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 06/04/2018 theo đúng quy định của pháp luật và S3.
Ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C đã rút vốn vay tại Ngân hàng TMCP S2 với tổng số tiền là: 250,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ thời điểm nhận nợ theo khế ước đến nay ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C đã trả nợ tổng cộng số tiền là: 296,447,382 đồng, trong đó: Trả nợ gốc: 216,749,364 đồng; Trả nợ lãi: 79,698,018 đồng.
Trong quá trình vay vốn ông Nguyễn S1 – bà Ngyễn Thị C1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 10/9/2021 nên S3 Chi nhánh H1 đã nhiều lần gửi thông báo nợ quá hạn, lập Biên bản làm việc, gửi thông báo thu hồi nợ.... yêu cầu ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C trả nợ vay nhưng ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho bên cho vay là Ngân hàng TMCP S2 theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tính đến ngày 14/4/2025, ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C còn nợ Ngân hàng TMCP S2 số tiền: Nợ gốc: 33,250,636 đồng; Nợ Lãi: 36,903,473 đồng. Tổng cộng: 70,154,109 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi triệu một trăm năm mươi tư nghìn một trăm lẻ chín đồng).
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, gửi thông báo nợ quá hạn, làm việc trực tiếp với ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C yêu cầu trả nợ theo đúng quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C không hợp tác, không thực hiện đúng theo quy định nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Chính vì vậy, Ngân hàng TMCP S2 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải trả cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 14/4/2025 là 70,154,109 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 33,250,636 đồng; Nợ Lãi: 36,903,473 đồng.
Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền lãi, phí, lãi quá hạn phát sinh theo lãi quá hạn, quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký giữa Ngân hàng TMCP S2 và ông Nguyễn S1 - bà Nguyễn Thị C kể từ ngày 15/4/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, cụ thể theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 05/4/2018 và Khế ước nhận nợ số 01-132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 06/4/2018.
Trong trường hợp ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C không trả được nợ, Ngân hàng TMCP S2 yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C, cụ thể: Tài sản bảo đảm là một xe ô tô tải có mui. Nhãn hiệu: THACO – Số loại: FRONTIER – Biển số: 75C – 084.47 – Số khung: 00AKHC066712 – Số máy: JT734106 – Màu: Xanh. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 019691 do Phòng C2, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 02/4/2018 (Đăng ký lần đầu ngày 02/4/2018) do bà Nguyễn Thị C đứng tên đăng ký. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số
132/2018/HĐRC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/4/2018 giữa ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C với Ngân hàng TMCP S2 đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Thừa Thiên Huế theo số công chứng 000887, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/4/2018, tài sản đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 06/4/2018.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C tại Ngân hàng TMCP S2. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C thì ông Nguyễn S1 – bà Nguyễn Thị C vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho ngân hàng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/02/2025, bị đơn – bà Nguyễn Thị C trình bày với nội dung như sau:
Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có ký với Ngân hàng TMCP S2 (S3) Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ngày 05/04/2018 để vay số tiền 250,000,000 đồng; Mục đích vay: Đầu tư mua xe ô tô tải có mui nhãn hiệu THACO để vận tải hàng hóa. Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 06/04/2018 đến ngày 06/04/2022). Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất được áp dụng trong thời hạn 06 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 7,9%/năm. Tính đến ngày 02/10/2024, bà Nguyễn Thị C còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 41,250,636 đồng; nợ lãi là 33,568,079 đồng, tổng cộng là 74,818,715 đồng. Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có đăng ký thế chấp một xe ô tô tải có mui, Nhãn hiệu: THACO, Biển số: 75C – 084.47 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 132/2018/HĐRC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/4/2018. Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đồng ý trả nợ số tiền còn lại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp không trả được nợ thì ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đồng ý xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nói trên.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án không tiếp tục hoà giài vì vậy Toà án tiến hành mở phiên toà đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và các đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/4/2025 là 70,154,109 đồng; trong đó: Nợ gốc: 33,250,636 đồng; Nợ Lãi: 36,903,473 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/4/2025 cho đến khi ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết.
Trường hợp ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C không thanh toán được nghĩa vụ nợ thì Ngân hàng TMCP S2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp là: một xe ô tô tải có mui. Nhãn hiệu: THACO – Số loại: FRONTIER – Biển số: 75C – 084.47 – Số khung: 00AKHC066712 – Số máy: JT734106 – Màu: Xanh. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 019691 do Phòng C2, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 02/4/2018 (Đăng ký lần đầu ngày 02/4/2018) do bà Nguyễn Thị C đứng tên đăng ký. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 132/2018/HĐRC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/4/2018 giữa ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C với Ngân hàng TMCP S2 đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Thừa Thiên Huế theo số công chứng 000887, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/4/2018, tài sản đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 06/4/2018 để thu hồi nợ vay. Trường hợp tài sản thế chấp đã xử lý nhưng không đủ thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP S2 thì bị đơn là ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải có nghĩa vụ trả tiếp số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP S2.
Về án phí: Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có địa chỉ cư trú tại xã T, thị xã H, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S2, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngân hàng TMCP S2 và ông Nguyễn S1 - bà Nguyễn Thị C đã ký kết Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018. Ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C đã nhận nợ vay tại Khế ước nhận nợ số: 01-132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 06/04/2018. Với số tiền vay là 250,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Đầu tư mua xe ô tô tải có mui nhãn hiệu THACO, số loại FRONTIER mới
100% để vận tải hàng hóa. Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 06/04/2018 đến ngày 06/04/2022). Lãi suất cho vay trong hạn: Lãi suất được áp dụng trong thời hạn 06 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 7,9%/năm; Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh lần đầu tiên là ngày 06/10/2018, các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 06/10/2018 và các lần tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 13 tháng trả lãi cao nhất khách hàng cá nhân (KHCN) của S3 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay là 4,25%/năm. Lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, bên vay phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Lãi chậm trả: Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn thì bên vay phải trả lãi chậm trả cho Bên cho vay theo mức lãi suất chậm trả quy định của Bên cho vay tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi.
Xét việc ký kết Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 132/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018 giữa ông Nguyễn S1 - bà Nguyễn Thị C và Ngân hàng TMCP S2 là tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực.
Do bị đơn ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết nên Ngân hàng TMCP S2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/4/2025 là 70,154,109 đồng; trong đó: Nợ gốc: 33,250,636 đồng; Nợ Lãi: 36,903,473 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/4/2025 cho đến khi ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết, là có căn cứ phù hợp với quy định tại 274, 275, 280, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên cần chấp nhận.
Về xử lý tài sản thế chấp: Xét Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 132/2018/HĐTC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018 đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Thừa Thiên Huế theo số công chứng 000887, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/04/2018, tài sản được đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 06/04/2018 giữa Ngân hàng TMCP S2 và ông Nguyễn S1 - bà Nguyễn Thị C là đảm bảo đúng quy định tại các Điều 318, 319, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 8, 22, 49 Nghị định 21/2021/NĐ- CP ngày 19/03/2021 của Chính Phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; do đó trường hợp ông S1 – bà C không trả được nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Một xe ô tô tải có mui. Nhãn hiệu: THACO, Số loại: FRONTIER - Biển số: 75C – 084.47, Số khung: 00AKHC066712, Số máy: JT734106, Màu: xanh; Theo giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 019691 do Phòng
C2, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 02/04/2018 (Đăng ký lần đầu ngày 02/04/2018) do bà Nguyễn Thị C đứng tên đăng ký để thu hồi nợ vay. Sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm mà vẫn không trả hết nợ, ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ tiếp tục trả cho Ngân hàng số nợ còn lại.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 70,154,109 đồng x 5% = 3,507,705 đồng (Ba triệu năm trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm lẻ năm đồng).
Ngân hàng TMCP S2 không phải chịu án phí, nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 1,870,468 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003875 ngày 21/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ 3.000.000 đồng nên cần buộc bị đơn ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S2 số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng chẵn).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng các Điều 274, 275, 280, 299, 318, 319, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 8, 22, 49 Nghị định 21/2021/NĐ- CP ngày 19/03/2021 của Chính Phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S2;
Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải trả cho Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/4/2025 là 70,154,109 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi triệu một trăm năm mươi tư nghìn một trăm lẻ chín đồng); trong đó: Nợ gốc là 33,250,636 đồng; Nợ Lãi là 36,903,473 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người yêu cầu là Ngân hàng TMCP S2 nếu ông
Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền trên cho Ngân hàng TMCP S2 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là: Một xe ô tô tải có mui. Nhãn hiệu: THACO, Số loại: FRONTIER - Biển số: 75C – 084.47, Số khung: 00AKHC066712, Số máy: JT734106, Màu: xanh; Theo giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô số 019691 do Phòng C2, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) cấp ngày 02/04/2018 (Đăng ký lần đầu ngày 02/04/2018) do bà Nguyễn Thị C đứng tên đăng ký theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 132/2018/HĐTC-CN/SHB.120600 ký ngày 05/04/2018 giữa Ngân hàng TMCP S2 và ông Nguyễn S1 - bà Nguyễn Thị C đã được công chứng tại Văn phòng C3, tỉnh Thừa Thiên Huế theo số công chứng 000887, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/04/2018, tài sản được đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng ngày 06/04/2018 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tài sản thế chấp đã xử lý nhưng không đủ thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải có nghĩa vụ trả nợ tiếp số tiền nợ còn lại.
3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 3,507,705 đồng (Ba triệu năm trăm lẻ bảy nghìn bảy trăm lẻ năm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 số tiền tạm ứng án phí 1,870,468 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003875 ngày 21/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, thành phố H.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị C phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng chẵn).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 (Ngân hàng TMCP S2); Địa chỉ trụ sở: Số G T, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Quang T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S2 Chi nhánh H1 (Theo Văn bản ủy quyền số 406.1/2023/VBUQ-SHB ngày 19/7/2023). Địa chỉ chi nhánh: Số B đường L, phường V, quận T, thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1982; ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1986; ông Hoàng Tùng L, sinh năm 1990 – là chuyên viên xử lý nợ; cùng địa chỉ: Số B đường L, phường V, quận T, thành phố H (Theo Giấy ủy quyền số 38/UQ-SHBHU ngày 23/10/2024). Đều có mặt. - Bị đơn: Ông Nguyễn S1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã H, thành phố H; Đều vắng mặt.
