Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 25/3/2025

V/v: “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tràn Thị Liên và ông Nguyễn Xuân Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Mận, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 114/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978;

Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Văn N tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào ngày 11/10/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn T, xã H, huyện Q được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, bà H bỏ về quê ở xã H cho đến nay. Bà H cho rằng tình cảm giữa bà và ông N không còn, hai bên không liên hệ và quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; mâu thuẩn không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông N.

Về quan hệ con chung: Bà H khai vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về phía bị đơn ông Nguyễn Văn N, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông N không đến Tòa án để giải quyết vụ việc. Theo Biên bản lấy lời khai ngày 04/3/2025 tại nhà của ông N trình bày như sau: Về việc kết hôn thống nhất như bà H trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng ông N trình bày vào năm 2015, ông N đi làm ăn xa, bà H ở nhà bỏ đi cho đến nay. Nay bà H làm đơn yêu cầu ly hôn, ông N đồng ý ly hôn. Về con chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có nên không yêu cầu giải quyết. Ông N xin được giải quyết, xét xử vắng mặt vì bận công việc không đến Tòa án được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện từ thụ lý vụ án đến khi xét xử đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành đúng nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện xử cho bà H được ly hôn ông N.

Về con chung và tài sản chung vợ chồng: Bà H, ông N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về Tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn N; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sựCăn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết.

Trong quá trình giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đều thực hiện đúng nghĩa vụ của mình có mặt theo giấy triệu tập. Bị đơn ông Nguyễn Văn N đều vắng mặt không có lý do mặc dù có mặt tại địa phương và được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt và có yêu cầu xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2012 tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hai vợ chồng ly thân đã hơn 10 năm nay, không còn quan tâm, chăm sóc, thương yêu lẫn nhau. Trong thời gian giải quyết tại Tòa án, cả hai bên đều không quan tâm, không tìm các biện pháp khắc phục, hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn xử cho bà H ly hôn ông N để các bên ổn định cuộc sống riêng.

2.2 Về con chung:

Các bên đều khai thống nhất không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3 Về tài sản chung:

Các bên đều khai thống nhất không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn N.

2. Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà H đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án huyện Quảng Ninh theo biên lai số 0004013 ngày 25 tháng 12 năm 2024. Bà H đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hạnh yêu cầu giải quyết ly hôn Nguyễn Văn Ngọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger