Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 24-3-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con,

chia tài sản chung và nợ chung khi

ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 20/2024/TLPT-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1981; trú tại: Tổ I, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Có mặt

Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến N, sinh năm 1979; trú tại: Tổ I, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Tiến H, sinh năm 1981; trú tại: Khu tập thể T, ấp B, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Có mặt

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T trình bày:

Bà T và ông Nguyễn Tiến N tự nguyện kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn. Bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà T và ông N có 04 con chung tên Nguyễn Trần Bảo A, sinh ngày 30/9/2008; Nguyễn Trần Bảo N1, sinh ngày 10/9/2012; Nguyễn Trần Quỳnh N2, sinh ngày 11/9/2019 và Nguyễn Trần Khánh N3, sinh ngày 02/9/2021. Hiện các con đang sống chung với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi 04 con chung, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung: Bà T đã rút yêu cầu chia tài sản chung vì bà và ông N tự thoả thuận được với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông N có vay số tiền nợ 1.000.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP N4- Chi nhánh C (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) nhưng vào ngày 04/12/2023 bà T đã đưa cho ông N số tiền 500.000.000 đồng, tương ứng với ½ số nợ chung để ông N trả cho Ngân hàng; đến ngày 07/12/2023 ông N đã trả toàn bộ số tiền trên cho Ngân hàng nên bà T và ông N không có nợ chung. Đối với yêu cầu độc lập của ông H thì bà T không đồng ý vì số tiền ông N vay của ông H là khoản vay riêng của ông N, không liên quan đến bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Tiến N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và con chung, ông N thống nhất với nội dung bà T trình bày và ông N đồng ý ly hôn với bà T, đồng ý giao 04 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Ông N và bà T đã tự thoả thuận được với nhau về việc chia tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông N và bà T có vay của Ngân hàng N4 - Chi nhánh C số tiền 1.000.000.000 đồng, do đến hạn trả nợ ông N chưa có tiền trả nên đã vay của ông Lê Tiến H số tiền 1.000.000.000 đồng để đáo hạn, sau đó tiếp tục vay lại Ngân hàng để trả cho ông H nhưng vì bà T không đồng ý đi ký hồ sơ vay vốn nên cho đến nay ông N chưa trả được cho ông H. Hiện nay, ông N và bà T không còn nợ Ngân hàng nhưng nợ của ông H số tiền 1.000.000.000 đồng vay ngày 07/12/2023 để đáo hạn khoản vay tại Ngân hàng. Vì vậy, việc bà T trình bày không có nợ chung là không đúng, ông N không thừa nhận có nhận của bà T số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 04/12/2023 để đi trả Ngân hàng như bà T trình bày, toàn bộ số tiền 1.000.000.000 đồng trả cho Ngân hàng vào ngày 07/12/2023 là do ông N vay của ông H cùng ngày. Vì vậy, ông N yêu cầu bà T phải có trách nhiệm trả ½ số nợ 1000.000.000 đồng cho ông H, tương ứng với số tiền 500.000.000 đồng vì đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Lê Tiến H trình bày:

Do có quan hệ bạn bè, đồng nghiệp với ông N nên ngày 07/12/2023 ông N có gặp ông H hỏi vay số tiền 1.000.000.000 đồng, mục đích để đáo hạn khoản vay 1.000.000.000 đồng tại Ngân hàng N4 - Chi nhánh C. Do thời gian vay ngắn 3- 5 ngày nên để giúp ông N thì ông H phải đi vay của người khác về cho ông N vay để đáo hạn, hai bên có viết giấy vay tiền ngày 07/12/2023, lãi suất thoả thuận, khi vay số tiền này thì ông H chỉ thoả thuận với ông N, không thoả thuận với bà T, còn việc bà T có biết việc ông N vay tiền của ông H hay không thì ông H không biết. Ông H xác định số tiền ông H cho ông N vay là để đáo hạn khoản vay 1.000.000.000 đồng của vợ chồng ông N vay tại Ngân hàng nên bà T và ông N phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông H số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền lãi.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Lê Tiến H đối với bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Tiến N;

  • - Buộc ông Nguyễn Tiến N có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê Tiến H số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).
  • - Buộc bà Trần Thị Mỹ T có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê Tiến H số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
  • - Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu độc lập của ông Lê Tiến H yêu cầu bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Tiến N trả nợ lãi đối với số tiền vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 07/12/2023, mức lãi 1.5%/tháng, từ ngày 07/12/2023 – 26/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền 144.500.000 đồng.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung; quyết định về án phí, biện pháp bảo đảm thi hành án, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về giải quyết nợ chung, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Tiến N có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê Tiến H toàn bộ số tiền 1.000.000.000 đồng do ông N vay của ông H, bà T không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông H.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T và bị đơn ông Nguyễn Tiến N đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, theo đó ông N có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến H số tiền 700.000.000 đồng, bà T có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến H số tiền 300.000.000 đồng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ T, sửa Bản án sơ thẩm về phần nợ chung theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T và bị đơn ông Nguyễn Tiến N đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau: ông Nguyễn Tiến N có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến H số tiền 700.000.000 đồng, bà Trần Thị Mỹ T có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến H số tiền 300.000.000 đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Tiến H đồng ý với nội dung thỏa thuận giữa ông N, bà T.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận và sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[2] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Do các đương sự thoả thuận về nghĩa vụ trả nợ nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sẽ được tính lại tương ứng với nghĩa vụ các bên phải thực hiện.

Bà Trần Thị Mỹ T phải chịu 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012605 ngày 15/12/2023 và số tiền 4.075.000 đồng (bốn triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0004297 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do bà Trần Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp và phần này đã có hiệu lực pháp luật nên bà Trần Thị Mỹ T phải nộp thêm số tiền án phí 3.425.000 đồng (ba triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Ông Nguyễn Tiến N phải chịu 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng); ông Lê Tiến H không phải chịu.

- Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:

Do Bản án sơ thẩm bị sửa nên bà T không phải chịu.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

    Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T;

    Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước về phần nợ chung.

  2. Căn cứ các điều 27, 30 và 60 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ các điều 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T và bị đơn ông Nguyễn Tiến N,

    • - Buộc ông Nguyễn Tiến N có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến H số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng).
    • - Buộc bà Trần Thị Mỹ T có nghĩa vụ phải trả cho ông Lê Tiến H số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
    • - Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu độc lập của ông Lê Tiến H yêu cầu bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Tiến N trả nợ lãi đối với số tiền vay 1.000.000.000 đồng.

    Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Bà Trần Thị Mỹ T phải chịu 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012605 ngày 15/12/2023 và số tiền 4.075.000 đồng (bốn triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0004297 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Bình Phước. Bà Trần Thị Mỹ T còn phải nộp thêm số tiền án phí 3.425.000 đồng (ba triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
    • - Ông Nguyễn Tiến N phải chịu 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).

    Ông Lê Tiến H không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho ông H số tiền tạm ứng án phí 21.675.000 đồng (hai mốt triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004120 ngày 08/3/2024.

    Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:

    Bà Trần Thị Mỹ T không phải chịu; Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004560 ngày 04/11/2024.

  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - Tòa án nhân dân thị xã C;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP, T.GÐNCTN. (11).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Viết Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Tiến N Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger