Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN BÀN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/ HNGĐ - ST

Ngày 24 tháng 3 năm 2025

Về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

N- ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN- LÀO CAI.

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lựa.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đàm Sông Hương

2. Ông Hoàng Văn Thứ.

Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: bà Nông Thị Mới- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số137/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024. Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXX ST- HNGĐ ngày 11/02/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QÐST - HNGĐ ngày 26/02/2025, giữa:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tr, sinh năm 1997.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn VX, xã VL, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt có lý do.

Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn VX, xã VL, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt không có lý do.

Người làm chứng: Ông Trần Thanh Sản, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn VX, xã VL, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của chị Trần Thị Tr trình bày, có yêu cầu: Ngày 20/02/2017 chị tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn C tại UBND xã Văn Sơn (nay là xã Võ Lao), huyện Văn Bàn. Hạnh phúc được khoảng 06 năm đến cuối năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chịanh C bất đồng quan điểm, phong cách sống, gay gắt nhất vào đầu năm 2023 đến nay đã sống ly thân, bỏ mặc không còn quan tâm, kinh tế của ai người đó quản lý, sử dụng và chấm dứt mối quan hệ tình cảm với anh C tính đến nay khoảng 01 năm nên chị không có thai với anh C. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn cách nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không được Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh C. Đề nghị đ-ợc ly hôn với anh Phạm Văn C.

Về con chị Trần Thị Tr xác định: Chịanh C có 02 con chung là Phạm Phương Ch, sinh ngày 25/11/2020; cháu Phạm Phương L, sinh ngày 18/12/2017. Hiện cháu Chi đang sống cùng tôi, cháu Linh đang sống cùng anh C. Nay, chị đề nghị Tòa giải quyết giao cháu Linh cho anh C, giao cháu Chi cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con cùng anh C đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nghĩa vụ thanh toán: Chị Trần Thị Tr xác định, chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị không đề nghị Tòa giải quyết.

Về phía bị đơn anh Phạm Văn C: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã thông báo và phổ biến điều luật về các quyền, nghĩa vụ, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) cho anh C và giao văn bản tố tụng của tòa cho anh C. Tuy nhiên, anh C tự tước đi các quyền và nghĩa vụ, không tham gia tố tụng, không ghi ý kiến trình bày quan điểm về mối quan hệ hôn nhân, nuôi con, tài sản đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh C. Anh C đã được biết chị Tr khởi kiện về ly hôn, về giao con khi ly hôn với anh C.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn có ý kiến:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • + Về giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Trần Thị Tr đ- ợc ly hôn với anh Phạm Văn C.
  • + Về con: Giao Phạm Phương Ch, sinh ngày 25/11/2020 cho chị Trần Thị Tr; giao cháu Phạm Phương L, sinh ngày 18/12/2017 cho anh Phạm Văn C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Tranh C không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
  • + Về án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Trần Thị Tr giao nộp và Tòa án xác minh thu thập được tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị Tranh C. Do anh C biết chị Tr yêu cầu giải quyết ly hôn với anh nên anh đi, không thông báo nơi ở mới và thông báo thời điểm trở về, cố ý giấu địa chỉ nơi ở mới, nơi làm việc hiện tại cho chị Tr không biết được địa chỉ mới của anh C nhằm né tránh việc ly hôn với chị Tr. Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý đều được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng và phổ biến về các quyền, nghĩa vụ để anh C biết đến Tòa thực hiện quyền, nghĩa vụ và trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr. Sau đó anh C đi làm kinh tế thì văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết theo quy định đều là hợp lệ. Do anh C không tham gia tố tụng và không ghi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr và không gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo, không có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền và lợi ích của mình từ khi thụ lý đến khi xét xử lần thứ nhất vào ngày 26/02/2025 và xét xử lần hai được mở lại ngày hôm nay anh C cố ý bỏ mặc không đến tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn tiến hành xét xử:

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tr xác định, ngày 20/02/2017 chịanh Phạm Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Sơn ( nay là xã Võ Lao), huyện Văn Bàn. Hạnh phúc được khoảng 06 năm đến cuối năm 2022 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Tranh C bất đồng quan điểm, phong cách lối sống, thường xuyên điều qua tiếng lại, gay gắt nhất đầu năm 2023 chị bỏ mặc không còn quan tâm, kinh tế của ai người đó quản lý, sử dụng và chấm dứt mối quan hệ tình cảm với anh C tính đến nay khoảng 01 năm nên chị Tr không có thai với anh C. Xét thấy, chị Tr thực sự không còn tình cảm với anh C, thời gian chung sống với nhau thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thiếu sự chăm lo, yêu thương quý trọng giữa vợ và chồng, làm rạn nứt tình cảm và anh C không hợp tác, không giao nộp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình, có thái độ bỏ mặc hôn nhân, không có thiện trí trong việc hướng đến mục đích đoàn tụ vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Tranh C mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử C áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr đề nghị được ly hôn với anh Phạm Văn C.

Về con: Chị Trần Thị Tr xác định: Đối với cháu Phạm Phương Ch, sinh ngày 25/11/2020; cháu Phạm Phương L, sinh ngày 18/12/2017. Mặc dù chị Tranh C không thỏa thuận về việc giao con khi ly hôn. Tuy nhiên khi ly thân anh, chị đã tự mỗi người nuôi một người con. Nay, chị Tr đề nghị tiếp tục giao cháu Linh cho anh C, giao cháu Chi cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, thu nhập hàng tháng của chị Tr, anh C đều có nguồn thu nhập từ tăng gia trồng trọt, khi nông nhàn đi làm thuê mỗi tháng khoảng 4.000.000đ đến 5.000.000₫ có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con. Hiện cháu Chi và cháu Linh đã và đang được chăm sóc, nuôi dưỡng đến nay đã được đảm bảo. Do vậy để đảm bảo việc học tập và phát triển về thể chất lẫn tinh thần và tránh sự xáo trộn trong cuộc sống cho cháu Chi và cháu Linh C chấp nhận đề nghị của chị Tr giao cháu Linh cho anh C, cháu Chi cho chị Tr tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với qui định tại Điều 81,82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với việc tự nguyện giao con của đương sự khi ly thân.

Về tài sản, vay nợ: Chị Trần Thị Tr không yêu cầu và xác định không vay nợ cơ quan, tổ chức, cá nhân khoản nào, không cho cơ quan, tổ chức vay nợ vợ chồng. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Bị đơn Anh Phạm Văn C không có yêu cầu phản tố và không có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.

[3] Về sản chung, vay nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Phạm Văn C không phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

[6] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Điều; 229 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử: Chị Trần Thị Tr đ- ợc ly hôn với anh Phạm Văn C.

    Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Tranh Phạm Văn C chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật

  2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Phạm Phương L, sinh ngày 18/12/2017 cho anh Phạm Văn C; giao cháu Phạm Phương Ch, sinh ngày 25/11/2020 cho chị Trần Thị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

    Về thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Tranh Phạm Văn C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm non con của người đó.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị Tr phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhận và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai thu tiền số 0004166 ngày 11/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Anh Phạm Văn C không phải chịu tiền án phí cấp dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Lựa

Nơi nhân

  • - TAND tỉnh Lào Cai(1);
  • - VKSND huyện Văn Bàn(2);
  • - Nguyên đơn (01).
  • - Bị đơn (01).
  • - THA Dân sự huyện Văn Bàn(1);
  • - UBND xã Võ Lao (01).
  • - Lưu VP. TAND huyện Văn Bàn(02).
  • - L-u HS vụ án (02),

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA

Đỗ Thị Lựa

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger