Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/DS-PT

Ngày: 20 - 3 - 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng

Các Thẩm phán: ông Phạm Văn Khôi và ông Phạm Thanh Tùng

Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: ông Phạm Văn Thỉnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 14, 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Lê Hữu H sinh năm 1974, bà Đinh Thị C sinh năm 1976; địa chỉ: số nhà D, đường P, phố B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
  2. Bị đơn: ông Đinh Quốc H1 sinh năm 1973, bà Trịnh Thị Vân A sinh năm 1977; địa chỉ: xóm E, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trịnh Thị Vân A: ông Phạm Đình V - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: số A TT8 Khu đô thị V, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Tòa nhà T, số A Hồ M, quận T, Thành phố Hà Nội.

  1. Người làm chứng: bà Nguyễn Thị Ánh H2 sinh năm 1972; địa chỉ: số nhà E, đường P, phố B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
  2. Người kháng cáo: bà Trịnh Thị Vân A là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 10/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C cùng trình bày:

Do quen biết nhau nên vợ chồng ông Đinh Quốc H1, bà Trịnh Thị Vân A có hỏi vay vợ chồng ông H, bà C 2.000.000.000 đồng. Ông H, bà C nhất trí cho vay không có lãi, ngày 22/02/2023 ông H đã chuyển khoản cho ông H1 số tiền 1.752.000.000 đồng và chiều tối ngày hôm sau 23/02/2023 số tiền còn lại (248.000.000 đồng) được ông bà đưa bằng tiền mặt; hai bên đã viết giấy vay tiền ngày 23/02/2023.

Vợ chồng ông H1 đã nhận đủ số tiền vay và viết giấy vay tiền cam kết đến ngày 23/01/2024 sẽ thanh toán đủ số tiền vay cho vợ chồng ông H, bà C. Đến ngày 23/01/2024 vợ chồng ông H1, bà Vân A không trả được nợ như đã cam kết.

Trong đơn khởi kiện ông H, bà C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông H1, bà Vân A phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng và phải trả lãi suất theo Ngân hàng 1,66%/tháng, thời gian tính từ ngày 23/02/2023 đến ngày 30/4/2024 với số tiền lãi là 470.725.000 đồng; Tổng số tiền ông H1, bà Vân A phải thanh toán là 2.470.725.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H và bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu vợ chồng ông H1, bà Vân A phải trả cho ông H, bà C số tiền nợ gốc là 2.000.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 24/01/2024 đến khi xét xử sơ thẩm 06/9/2024 với số tiền lãi là 120.000.000 đồng (10%/năm); tổng số tiền ông H1, bà Vân A phải thanh toán là 2.120.000.000 đồng.

Bị đơn bà Trịnh Thị Vân A trình bày:

Thông qua bà Nguyễn Thị Ánh H2 giới thiệu nên vợ chồng bà mới biết vợ chồng ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C. Khi biết vợ chồng bà Vân A đầu tư tiền vào Công ty T có lợi nhuận, ngày 22/02/2023 vợ chồng ông H, bà C trao đổi muốn góp vốn vào Công ty T số tiền 2.000.000.000 đồng. Do chưa gặp được bà K - Tổng giám đốc Công ty T nhưng ông H, bà C vẫn muốn đầu tư luôn nên ông H, bà C đã nhờ vợ chồng bà giúp làm hợp đồng. Ngay tối hôm đó, ông H đã chuyển vào tài khoản của ông H1 5 lần với tổng số tiền 1.752.000.000 đồng, với nội dung ông H cho ông H1 vay tiền để nhờ vợ chồng bà chuyển tiền vào Công ty T và làm giúp hợp đồng đầu tư vào công ty mục đích nhận tiền lợi nhuận từ công ty.

Vì số tiền làm hợp đồng đầu tư giúp ông H, bà C rất lớn nên để cho vợ chồng ông H, bà C yên tâm về việc chắc chắn vợ chồng ông bà không dùng số tiền đó vào việc riêng và để chắc chắn ông bà sẽ làm hợp đồng cho ông bà H, C, hai bên đã làm giấy vay tiền. Sau 02 ngày vợ chồng ông bà đã chuyển tiền nộp cho Công ty T và vợ chồng ông H, bà C đã ký 02 hợp đồng góp vốn, mỗi hợp đồng trị giá 1.000.000.000 đồng với Công ty T; Số tiền, số tài khoản của ông H, bà C đã được ghi rõ trong hợp đồng, tổng giá trị 02 hợp đồng là 2.000.000.000 đồng đúng với số tiền ông bà H, C đầu tư vào công ty. Vợ chồng bà đã chuyển bản hợp đồng cho ông H, bà C ngay tại nhà ông H, bà C có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Ánh H2.

Vì vậy, ông H và bà C khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả số tiền 2.000.000.000 đồng là không đúng.

Bị đơn ông Đinh Quốc H1: đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia tố tụng.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ánh H2 trình bày: bà H2 là hàng xóm của vợ chồng ông H. Bà H2 có quen biết vợ chồng ông H1 và vợ chồng ông H. Bà H2 được chứng kiến ông H, bà C thỏa thuận cho ông H1, bà Vân A vay 2.000.000.000 đồng và hẹn đến ngày 23/01/2024 sẽ thanh toán đầy đủ số tiền trên, ông H1 xác nhận đã nhận đủ số tiền vay ngày 23/02/2023; cả hai bên nhờ bà ký làm chứng còn nội dung và sử dụng vào mục đích gì thì bà không biết.

Tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp:

  • Nguyên đơn cung cấp: Giấy vay tiền ngày 23/02/2023 có nội dung: vợ chồng ông H1, bà Vân A vay của vợ chồng ông H, bà C 2.000.000.000 đồng để làm việc riêng và hẹn đến ngày 23/01/2024 sẽ trả đủ số tiền vay.
  • Bị đơn cung cấp:
  • - Sao kê chi tiết giao dịch của Ngân hàng V2 đối với tài khoản của ông H1 có nội dung:

Từ 19h21’ đến 19h45' ngày 22/02/2023 ông H đã chuyển khoản cho ông H1 5 lần với tổng số tiền 1.752.000.000 đồng, nội dung chú H cho anh H1 vay tiền.

Từ 21h19' đến 21h29' ngày 22/02/2023 ông H1 đã chuyển khoản cho Công ty T 4 lần với tổng số tiền 1.610.000 đồng, nội dung chuyển tiền HD tập đoàn T1.

- Tin nhắn điện thoại hồi 23h15' ngày 22/02/2023 của ông H1 cho Công ty T với nội dung:

Thị trường Kim Sơn ngày 22/02/2023 nâng cấp HĐ: 1.000.000.000VNĐ; HT: CK; tên Lê hữu H; STK 102872380583; NH: V3; chủ TK: L2; SĐT: 0972.456.xxx; NGT Trịnh Thị Vân A.

Thị trường Kim Sơn ngày 22/02/2023 nâng cấp HĐ: 1.000.000.000VNĐ; HT: CK; tên Đinh thị C; STK: 0000730763471; NH: M; chủ TK: Đinh thị chiên; SĐT: 0359.336.xxx; NGT Đinh Quốc H1. (giao nộp cho TAKS)

- Hợp đồng góp vốn cổ đông (V/v góp vốn cổ phần ưu đãi hoàn lại) ngày 22/02/2023 được ký kết giữa Công ty cổ phần T2 và tổ chức sự kiện Tâm Lộc P và ông Lê Hữu H với số tiền góp vốn là 1.000.000.000 đồng, mức lợi nhuận/ngày là 4.000.000 đồng.

- Hợp đồng góp vốn cổ đông (V/v góp vốn cổ phần ưu đãi hoàn lại ngày 22/02/2023 được ký kết giữa Công ty cổ phần T2 và tổ chức sự kiện Tâm Lộc P (sau đây gọi tắt là Công ty T) và bà Đinh Thị C với số tiền góp vốn là 1.000.000.000 đồng, mức lợi nhuận/ngày là 4.000.000 đồng. (02 Hợp đồng cung cấp tại giai đoạn giải quyết phúc thẩm)

Tại Bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn quyết định: áp dụng Điều 280, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn vợ chồng ông Lê Hữu H và bà Đinh Thị C đối với vợ chồng ông Đinh Quốc H1 và bà Trịnh Thị Vân A.

Buộc vợ chồng ông Đinh Quốc H1 và bà Trịnh Thị Vân A phải trả cho vợ chồng ông Lê Hữu H và bà Đinh Thị C số tiền 2.120.000.000 đồng (hai tỷ một trăm hai mươi triệu đồng) trong đó: tiền gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 120.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thi hành nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả đối với số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí:
  • - Vợ chồng ông Lê Hữu H và bà Đinh Thị C được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 40.707.000 đồng đã nộp theo biên lai số 2196 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Sơn .
  • - Vợ chồng ông Đinh Quốc H1 và bà Trịnh Thị Vân A phải nộp 74.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, yêu cầu, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Ngày 12/9/2024 bị đơn bà Trịnh Thị Vân A kháng cáo bản án sơ thẩm. Lý do: việc đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, khách quan dẫn đến quyết định chưa đảm bảo và chưa khách quan. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vợ chồng ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C trình bày: ông H, bà C có ký nhiều hợp đồng góp vốn cổ đông với Công ty cổ phần T2 và tổ chức sự kiện Tâm Lộc P nhưng không có liên quan gì đến vợ chồng ông Đinh Quốc H1, bà Trịnh Thị Vân A, không có liên quan gì đến nội dung giấy vay tiền ngày 23/02/2023 giữa vợ chồng ông H, bà C và vợ chồng ông H1, bà Vân A. Chữ ký trong 02 bản hợp đồng góp vốn cổ đông ngày 22/02/2023 vào Công ty cổ phần T2 và tổ chức sự kiện Tâm Lộc P do bà Vân A giao nộp đúng là chữ ký của ông H, bà C. Ông H, bà C ký vào 02 bản hợp đồng nêu trên ngày 22/02/2023, khi ký cả 02 bản hợp đồng đều để trống phần nội dung, mục đích ông bà ký vào hợp đồng để cho vợ chồng ông H1, bà Vân A chụp ảnh quảng bá công việc (PA) môi giới góp vốn. Đối với việc vay nợ ngày 23/02/2023 nếu vợ chồng ông H1 có thiện chí hòa giải thì vợ chồng ông H, bà C chấp nhận chỉ lấy số tiền 600.000.000 đồng, thời hạn trả nợ trong 6 năm (phiên tòa ngày 14/3/2025 vợ chồng ông H và bà Vân A đã thỏa thuận, vợ chồng bà Vân A trả cho vợ chồng ông H 600.000.000 đồng trong thời hạn 6 năm). Nếu không hòa giải được thì vợ chồng ông H, bà C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn vợ chồng ông Đinh Quốc H1, bà Trịnh Thị Vân A trình bày: ngày 22/02/2023 vợ chồng ông H, bà C muốn góp vốn vào Công ty T số tiền 2.000.000.000 đồng. Ông H, bà C đã nhờ vợ chồng H1 giúp làm hợp đồng. Ngay tối hôm đó ông H, bà C đã ký hợp đồng góp vốn cổ đông và chuyển vào tài khoản của ông H1 5 lần với tổng số tiền 1.752.000.000 đồng, số tiền còn lại vợ chồng ông H chưa thanh toán cho vợ chồng ông H1. Vì số tiền làm hợp đồng đầu tư giúp ông H, bà C rất lớn, để cho vợ chồng ông H, bà C yên tâm về việc chắc chắn vợ chồng ông bà sẽ làm hợp đồng cho ông H, bà C nên hai bên đã làm giấy vay nợ. Ngay sau đó vợ chồng ông H1 đã chuyển tiền nộp cho Công ty T 1.610.000.000 đồng và đã chuyển tinh nhắn nội dung của hợp đồng theo mẫu cho công ty, số tiền còn lại của 02 hợp đồng vợ chồng ông H1 vẫn đang nợ công ty. Vợ chồng ông H, bà C chỉ bỏ ra 1.752.000.000 đồng để góp vốn và đã hưởng lợi nhuận 6 tháng khoảng 1.200.000.000 đồng (công ty chuyển tiền lợi nhuận hàng tháng vào tài khoản của ông H, bà C), số tiền còn lại mỗi bên chịu ½ nên vợ chồng ông H1 chỉ chấp nhận trả cho vợ chồng ông H 270.000.000 đồng và trả trong hạn 3 năm. Ông H1 không nhất trí trả 600.000.000 đồng trong thời hạn 6 năm như bà Vân A và vợ chồng ông H thỏa thuận. Trong hai hợp đồng góp vốn nêu trên, vợ chồng ông H1 được hưởng tiền hoa hồng là 10%, bà H2 môi giới được hưởng 30.000.000 đồng và vợ chồng ông H cũng được hưởng 60.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hủy bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Trịnh Thị Vân A là bị đơn trong vụ án đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của người kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án được xét xử lại theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo:

Bị đơn ông Đinh Quốc H1, bà Trịnh Thị Vân A đều thừa nhận, ngày 22/02/2023 vợ chồng ông bà có nhận số tiền 1.752.000.000 đồng của vợ chồng ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C và ngày 23/02/2023 đã viết giấy vay tiền 2.000.000.000 đồng của vợ chồng ông H, bà C. Thực chất số tiền nêu trên không phải là tiền vợ chồng ông H1 vay mà vợ chồng ông H1 nhận để giúp vợ chồng ông H, bà C làm hợp đồng góp vốn vào Công ty T. Sau đó, vợ chồng ông H1 đã chuyển tiền cho Công ty T; vợ chồng ông H, bà C đã ký 02 hợp đồng góp vốn với Công ty T, mỗi hợp đồng trị giá 1.000.000.000 đồng và đã hưởng lợi nhuận 6 tháng khoảng 1.200.000.000 đồng. Để cho vợ chồng ông H, bà C yên tâm về việc chắc chắn vợ chồng ông H1 không dùng số tiền đó vào việc riêng mà sẽ làm hợp đồng góp vốn cho ông bà H, C, hai bên đã làm giấy vay tiền. Việc giới thiệu ông H, bà C góp vốn vào công ty, vợ chồng ông H1, bà Vân A được hưởng lợi 200.000.000 đồng.

Để chứng minh lời khai của mình, bà Vân A đã giao nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm tài liệu, chứng cứ là Bản sao kê chi tiết giao dịch của Ngân hàng V2 đối với tài khoản của ông H1; Tin nhắn điện thoại hồi 23h15' ngày 22/02/2023 của ông H1 gửi công ty.

Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu bà Vân A cung cấp cho Tòa án hợp đồng góp vốn của ông H, bà C với Công ty T; địa chỉ cụ thể của Công ty T và người đại diện theo pháp luật của công ty. Bà Vân A không cung cấp được với lý do công ty đang bị công an vào cuộc điều tra nên không xin được hợp đồng.

Với các tài tiệu do bà Vân A cung cấp tại giai đoạn giải quyết sơ thẩm không đủ căn cứ xác định việc vay nợ giữa vợ chồng bà Vân A và vợ chồng ông H theo giấy vay nợ ngày 23/02/2023 có liên quan đến việc giới thiệu và giúp vợ chồng ông H, bà C góp vốn vào Công ty T. Tuy nhiên trong giai đoạn giải quyết phúc thẩm, bà Vân A đã giao nộp được 02 bản Hợp đồng góp vốn cổ đông ngày 22/02/2023 được ký kết giữa Công ty T và ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C. Vợ chồng ông H, bà C cũng đã thừa nhận chữ ký trong 02 bản hợp đồng góp vốn cổ đông ngày 22/02/2023 đúng là chữ ký của ông, bà. Ông H, bà C khai khi ông bà ký cả 02 bản hợp đồng đều để trống phần nội dung, mục đích ông bà ký vào hợp đồng để cho vợ chồng ông H1, bà Vân A chụp ảnh quảng bá công việc (PA) môi giới góp vốn nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Ông H, bà C là người có năng lực hành vi dân sự nên phải chịu trách nhiệm với chữ ký của mình. Đây là tài liệu, tình tiết mới phát sinh trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Xem xét nội dung tài liệu, chứng cứ là Bản sao kê chi tiết giao dịch của Ngân hàng V2 đối với tài khoản của ông H1; tin nhắn điện thoại hồi 23h15' ngày 22/02/2023 trên điện thoại của ông H1; 02 bản Hợp đồng góp vốn cổ đông ngày 22/02/2023 được ký kết giữa Công ty cổ phần T2 và tổ chức sự kiện Tâm Lộc P và ông Lê Hữu H, bà Đinh Thị C và sự thừa nhận chữ ký trong hợp đồng của ông H, bà C thấy phù hợp với lời khai của bà Trịnh Thị Vân A, ông Đinh Quốc H1. Từ các tài liệu, chứng cứ này có thể xác định: ông H1, bà Vân A làm môi giới, giới thiệu ông H, bà C ký kết hợp đồng góp vốn với Công ty T để hưởng hoa hồng (môi giới theo hình thức "đa cấp"). Ngay sau khi nhận tiền của vợ chồng ông H, ông H1 đã chuyển tiền cho Công ty T. Giữa ông H, bà C và Công ty T đã ký hợp đồng góp vốn cổ đông với số tiền như vợ chồng ông H1 đã ký nhận vay. Giấy vay tiền giữa vợ chồng ông H và vợ chồng ông H1 là hợp đồng giả tạo để che giấu cho việc môi giới, giới thiệu ký kết và thực hiện hợp đồng góp vốn giữa ông H, bà C và Công ty T. Vì vậy, Công ty T có liên quan đến việc giải quyết vụ án, cần phải đưa công ty vào tham gia tố tụng và thu thập tài liệu, chứng cứ tại công ty để xem xét làm rõ sự liên quan giữa số tiền vay nợ của vợ chồng ông H1, bà Vân A với vợ chồng ông H, bà C và việc ký kết, thực hiện hợp đồng góp vốn cổ đông giữa ông H, bà C với Công ty T ngày 22/02/2023 thì mới có căn cứ để ra phán quyết.

Do có tình tiết mới phát sinh, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị Vân A, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm nên bà Trịnh Thị Vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí phúc thẩm: bà Trịnh Thị vân A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trịnh Thị Vân A 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001852 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Sơn.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - TAND H.Kim Sơn;
  • - CCTHADS H.Kim Sơn;
  • - Phòng TT-KTNV-THA;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng Tòa án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tử Lượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 05/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger