Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HƯNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-3-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con

và đòi tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Sắc.
  2. Ông Trần Thanh Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Thơ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con và đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Yến N, sinh năm: 1995 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị C, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10 tháng 10 năm 2024, các biên bản ghi lời khai và tại phiên toà nguyên đơn bà Trần Thị Yến N trình bày:

Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, bà và ông Ú có tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 04/7/2017. Thời gian đầu chung sống hòa thuận, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn do sống không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, ông Ú có quan hệ tình cảm với người khác, bà nhận thấy bản thân bà bị ông Ú xúc phạm, tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ gia đình nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Ú.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: nam, cháu vẫn sống chung với bà N.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Ú cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Ú vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày:

Ông Ú thừa nhận sau thời gian tìm hiểu, ông Ú và bà N có tổ chức tiệc cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 04/7/2017. Thời gian chung sống vợ, chồng ông sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn mà phải ly hôn, chỉ mâu thuẫn là bà N ghen tuông cho rằng ông có người khác. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông xin được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: nam và ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ông Ú có đến Tòa để lấy lời khai trình bày ý kiến, sau đó ông Nguyễn Văn Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm thủ tục hòa giải, nhưng không đến, Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng tiến hành làm thủ tục xét xử vắng mặt ông Ú.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị C trình bày: Vào năm 2022, bà có cho vợ chồng bà Trần Thị Yến N và ông Nguyễn Văn Ú mượn 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu sơn: Đen Nhám, mang biển số 62C1-242.49, do Phan Thị C đứng tên giấy đăng ký xe để làm phương tiện đi lại. Bà cũng đã giấy đăng ký xe cho bà N và ông Ú quản lý, sử dụng. Nay bà có nhu cầu sử dụng nên bà đã nhiều lần yêu cầu bà N và ông ăn Ú trả lại chiếc xe trên cho bà, nhưng ông Ú không trả. Trị giá chiếc xe hiện nay khoảng 15.000.000 đồng. Nay bà C yêu cầu bà N và ông Ú phải trả lại cho bà chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu: Đen nhám, biển kiểm soát: 62C1-242.49 và giấy đăng ký xe do Phan Thị C đứng tên. Tại phiên toà, bà C rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc bà C không yêu cầu bà N và ông Ú phải trả lại cho bà chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu: Đen nhám, biển kiểm soát: 62C1-242.49 và giấy đăng ký xe do Phan Thị C đứng tên.

Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến hành hòa giải được.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán là đúng theo quy định; Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Vợ chồng bà N và ông Ú có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà N nhận thấy mối quan hệ giữa bà và ông Ú có nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến gây gổ với nhau, ông Ú thường xuyên uống rượu, có hành vi đánh đập bà,

ông Ú không quan tâm, chăm sóc gia đình, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không có khả năng đoàn tụ, hơn nữa bà N và ông Ú đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay nên yêu cầu của bà N về việc ly hôn với ông Ú là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: nam là có cơ sở chấp nhận vì: từ khi ly thân bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K và cháu K có nguyện vọng được sống chung với mẹ để mẹ chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo vật chất lẫn tinh thần. Do đó, yêu cầu của bà N có căn cứ chấp nhận theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu nên không xem xét.

Đối với ý kiến ông Ú: Ông Ú không đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Yến N và yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: nam là không có cơ sở chấp nhận vì: giữa ông và bà N đã phát sinh mâu thuẫn do ông có quen với người phụ nữ khác, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hơn nữa bà N cương quyết ly hôn nên không có khả năng đoàn tụ, từ khi ly thân thì bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K ổn định về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông Ú.

- Đối với yêu cầu của bà C: Tại phiên tòa bà C rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện đây là sự tự nguyện nên được ghi nhận và đề nghị HĐXX xem xét đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS.

Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại các Điều 26, 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Văn Ú không đến, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho ông Ú, nhưng ông Ú vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông Ú theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Trên cơ sở trình bày của nguyên đơn, bị đơn, qua xác minh quá trình quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông Ú là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên phát sinh mâu thuẫn, cha mẹ hai bên đã nhiều lần hòa giải đoàn tụ nhưng không được, bà N kiên quyết ly hôn với ông Ú, Tòa án đã thụ lý tiến hành hòa giải cho đoàn tụ và kéo dài thời gian nhưng đúng theo quy định pháp luật để ông Ú có

điều kiện tự điều chỉnh mâu thuẫn và có phương pháp đoàn tụ, nhưng ông Ú không có phương pháp giải quyết mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình, Tòa án đã triệu tập nhiều lần cho ông Ú đến để hòa giải đoàn tụ, nhưng ông Ú không đến nghĩa là ông Ú không quan tâm đến hôn nhân của ông và bà N. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N với ông Ú đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông Ú là có căn cứ theo các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: nam, hiện cháu vẫn sống chung với bà N. Bà N yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, cháu K đang sống với mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, bà N có thu nhập ổn định nên đảm bảo vật chất và tinh thần cho con chung. Đối với ông Ú, tại phiên tòa không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, Hội đồng xét xử không nắm được ý kiến của ông có xin nuôi con hay không như ý kiến lời khai của ông. Như vậy, yêu cầu nuôi con chung của bà N là có căn cứ.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.4] Đối với yêu cầu của bà Phan Thị C yêu cầu bà N, ông Ú phải trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại JK 032 VISSON màu sơn đen đỏ; Số máy JK03E7670560, số khung RLHJK032NZ050585, sản xuất 2022. Tại phiên tòa bà C rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà C nên Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà C.

[2.5] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng là có căn cứ chấp nhận.

[2.6] Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị Yến N phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Ú không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phan Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vì bà C rút đơn tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 28, 35, 39, 147, 217 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 17, 27, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Bà Trần Thị Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ú.

2. Về con chung:

Bà Trần Thị Yến N được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018; Giới tính: Nam.

Ông Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ giao con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 03/02/2018, giới tính: Nam cho bà Trần Thị Yến N nuôi dưỡng, chăm sóc.

Ông Nguyễn Văn Ú không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc giáo dục con, không ai được quyền ngăn cản ông Ú thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về cấp dưỡng và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C đối với ông Nguyễn Văn Ú, bà Trần Thị Yến N về việc “Đòi tài sản”.

5. Về án phí:

Bà Trần Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002256 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. Bà N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Bà Phan Thị C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà C 375.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà C đã nộp theo biên lai thu số 0001576 ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

Ông Nguyễn Văn Ú không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện/tỉnh.
  • - Chi cục THADS.
  • - UBND xã Hưng Điền B.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN về ly hôn, nuôi con và đòi tài sản

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con và đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Yến N tranh chấp "Ly hôn, nuôi con" với Nguyễn Văn U
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger