|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Toan và bà Trần Thị Mão.
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trịnh Quốc T, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1993 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quốc T1 và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 07/6/2023 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 14/02/2024); tiền sự: không.
Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 212/QĐ-XPHC ngày 10/5/2016 Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 25/7/2016);
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC ngày 12/5/2016 Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 25/7/2016);
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 214/QĐ-XPHC ngày 14/7/2016 Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 02/8/2016).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 28/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N đến nay (có mặt).
1
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Đặng Thế T2, sinh năm 1993; nơi cư trú: xóm Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- + Anh Vũ Văn P, sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn H, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- + Chị Vũ Thị C, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- + Ông Phạm Hữu C1, sinh năm 1961; nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- - Người làm chứng:
- + Anh Đặng Văn K (vắng mặt).
- + Anh Lê Văn H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Quốc T là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy và để có tiền mua ma túy, T đã nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Ngày 15/10/2024, T đến khu vực hồ L thuộc xóm G, xã Y, huyện Y mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilon kích thước (13 x 8,5) cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa có đường kẻ chỉ màu đỏ, bên trong đựng 02 túi nilon chứa ma túy đá và 02 vỏ túi nilon chất tinh thể màu trắng với giá 400.000 đồng. Sau đó T đem túi nilon có chứa 02 túi ma túy và 02 vỏ túi nilon về phòng 204 nhà nghỉ H2 thuộc thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nhà nghỉ T đã thuê trước đó cất giấu.
Do biết Trịnh Quốc T bán trái phép chất ma túy và có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào trưa ngày 16/10/2024, Đặng Thế T2, sinh năm 1993 trú tại xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là thị trấn Y, huyện Y) rủ Vũ Văn P, sinh năm 2002 trú tại thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình) sử dụng ma túy thì P đồng ý. Sau đó T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S bên trong lắp sim số thuê bao 0339266234, truy cập ứng dụng "Zalo" đăng nhập tài khoản mang tên "Đặng Tâm" đăng ký bằng số thuê bao là 0339266234 của T2 để nhắn tin đến tài khoản zalo mang tên "Lặng" được đăng ký bằng số thuê bao 0989408608 của Trịnh Quốc T với nội dung "đang ở đâu, còn đồ không bạn", ý T2 hỏi T có ma túy đá không. Hiểu ý T2 hỏi nên T nhắn tin zalo trả lời T2 "còn, đang ở thôn H". Thấy vậy, T2 gọi điện zalo cho T nói "lấy cho bạn ba trăm" thì T đồng ý và hẹn T2 đến ngã ba thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để lấy ma túy. Do không có tiền nên T2 rủ P đi cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển kiểm soát 35F1-019.54 của T2 cho anh Đặng Văn K sinh năm 1981 ở tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để lấy tiền mua ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày T2 điều khiền xe
2
mô tô BKS 35F1-019.54 chở theo P đến đến nhà anh K. Trên đường đi T2 sử dụng điện thoại liên hệ với anh K để giao dịch cầm cố xe, anh K đồng ý cầm cố chiếc xe với giá 4.500.000 đồng. Anh K chuyển tiền qua tài khoản cho T2 số tiền 3.800.000 đồng còn lại số tiền 700.000 đồng giao tiền mặt. Sau đó T2 chở P đi đến ngã ba đối diện phòng khám A thuộc tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì dừng xe lại và nói P đem chiếc xe đến nhà anh K cầm cố lấy số tiền 700.000 đồng rồi thuê xe taxi BKS 33A-110.28 do anh Lê Văn H sinh năm 1976 trú tại tổ dân phố C, thị trấn Y lái xe đến thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình gọi cho T để lấy ma túy. Sau đó, T2 đưa chiếc xe mô tô cho P, rồi đi bộ đến nhà nghỉ H3 thuộc tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình do ông Phạm Hữu C1 sinh năm 1961 trú tại tổ dân phố K, thị trấn Y, huyện Y làm chủ thuê phòng 201 để nghỉ, còn P điều khiển xe mô tô đến nhà anh K cầm cố chiếc xe trên. Sau khi nhận xe anh K chuyển khoản số tiền 3.800.000 đồng đến tài khoản của Đặng Thế T2 rồi đưa cho P số tiền mặt 700.000 đồng. Sau đó P đi xe taxi do anh Lê Văn H sinh năm 1976 ở tổ dân phố C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình điều khiển để đi đến xã Y lấy ma túy. Đặng Thế T2 sau khi nhận được số tiền 3.800.000 đồng do K chuyển đến, T2 gọi điện zalo nói với T "lấy cho bạn bốn trăm, có thằng em nó đến lấy khi nào đến bạn gọi, bạn nhắn số tài khoản đây tôi chuyển tiền cho", thì T đồng ý và nhắn tin zalo gửi số tài khoản 107872259285 ngân hàng TMCP C2 của T cho T2. Sau đó T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S nêu trên truy cập ứng dụng ngân hàng "M1" số tài khoản 0339266234 chuyển số tiền 400.000 đồng đến số tài khoản 107872259285 ngân hàng TMCP C2 của T. Khi này, P đi xe taxi đến nhà nghỉ H2 thì sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A06 lắp sim số thuê bao 0389123724 gọi đến số thuê bao 0989408608 của T, nhưng T không nghe máy nên P gọi điện lại cho T2 để thông báo. Thấy vậy T2 gọi "zalo" cho T nói P đã đến để lấy ma túy. Lúc này T đang ở phòng 204 nhà nghỉ H2 do bà Vũ Thị C sinh năm 1974 trú tại thôn H, xã Y, huyện Y làm chủ lấy 01 túi nilon bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá mua ngày 15/10/2024 T cất giấu trong phòng 204 rồi đi ra ngoài đường đến gần chiếc xe taxi chở P đang đỗ ở lề đường. Thấy T đi đến, P mở cửa xe bước ra, T đưa cho P 01 túi nilon đựng ma túy đá, Phong cầm túi ma túy và đưa cho T 300.000 đồng rồi lên xe taxi quay về, còn T đi lên phòng 204 nhà nghỉ Hưng T3 gọi zalo cho T2 hỏi "Bạn chuyển tiền rồi sao thằng em nó còn đưa tôi ba trăm", thấy vậy T2 nói với T "Thế bạn chuyển lại tiền cho tôi", T đồng ý và chuyển khoản lại số tiền 250.000 đồng cho T2 còn lại số tiền 50.000 đồng Tâm cho T nên T không phải trả lại cho T2 nữa.
3
Sau khi P mua ma túy của T thì đi taxi về nhà nghỉ H3, P mua 1 chai nước lọc nhãn hiệu "Number 1" ở nhà nghỉ H3 với mục đích lấy chai nước đó làm dụng cụ sử dụng ma túy và thanh toán 200.000 đồng tiền thuê phòng rồi đi lên phòng 201 đóng cửa, đưa túi ma túy cho T2. Sau đó T2 lấy 1 vỏ bao thuốc lá vinataba màu vàng bên trong có một coóng thủy tinh hình chữ L trong suốt, đường kính coóng thủy tinh 0,6cm, kích thước hình chữ L cao 7,5cm và rộng 3,5 cm, 01 ống hút bằng nhựa màu trắng dài 10cm, đường kính 0,5cm, đầu ống hút quấn băng dài màu đen dài 1,7cm, 01 nắp chai nhựa màu vàng đường kính 3 cm, cao 1,1cm, trên mặt nắp chai đã đục sẵn 02 lỗ, đường kính mỗi lỗ 0,6cm và 01 chiếc bật lửa ga, đây là dụng cụ để sử dụng ma túy mà T2 đã đem theo trong người, rồi đưa cho P lắp ráp. P lấy chai nước lọc mua ở nhà nghỉ H3 mở nắp chai đổ 1/3 lượng nước trong chai ra ngoài, rồi lấy nắp chai nhựa màu vàng đã đục sẵn 02 lỗ vặn vào chai nước, dùng coóng thủy tinh, ống hút nhựa gắn vào 2 lỗ nắp chai tạo thành công cụ sử dụng ma túy. Sau đó T2 đưa túi nilon chứa ma túy đá cho Phong cầm đổ toàn bộ ma túy vào trong coóng thủy tinh, rồi P vứt vỏ túi nilon vào trong vỏ lon nước ngọt bò húc ở dưới nền nhà có sẵn trong phòng 201. P cầm chiếc bật lửa ga, bật lửa đốt nóng coóng thủy tinh bên trong chứa ma túy đá và bắt đầu sử dụng. T2 là người sử dụng ma túy trước, sau đó đến lượt P, cứ như vậy T2 và P sử dụng ma túy đến hết rồi nằm nghỉ lại trong phòng 201 đến sáng ngày 17/10/2024, T2 cầm chiếc bật lửa ga, còn P cầm vỏ bao thuốc lá vinataba màu vàng bên trong đựng coóng thủy tinh, ống hút nhựa, vỏ nắp chai trả phòng đi về nhà cất giấu. Đến tối ngày 18/10/2024 Trịnh Quốc T lấy túi ma túy đá còn lại T đã mua của người đàn ông không quen biết vào tối ngày 15/10/2024 ở tại phòng 204 nhà nghỉ H2 sử dụng hết ma túy.
Đến ngày 19/10/2024 hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Thế T2 và Vũ Văn P bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y phát hiện. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, ngày 19/10/2024 Trịnh Quốc T đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0989408608 và 0866795035.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Quốc T tại phòng 204 nhà nghỉ H2 thu giữ và niêm phong theo quy định những vật chứng gồm: 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,8 x 1,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong túi có bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu KX01); 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,9 x 1,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong túi có bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu KX02); 01 túi nilon trong suốt kích thước (2,6 x 2,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu đỏ, bên trong túi có bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu KX03); 01 túi nilon trong suốt kích thước (13 x 8,5)cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa đường kẻ chỉ màu đỏ (kí hiệu KX04); 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ; 01 chai nhựa, vỏ màu vàng, thể tích 330 ml, đầu nắp chai có đục 2 lỗ, 1 lỗ có gắn 1 chiếc ống hút màu đỏ dài 19,5 cm, đường kính 0,5 cm và 1 lỗ gắn 1 chiếc coóng bằng thủy
4
tinh (Kí hiệu KX05) trong suốt dài 14cm, đường kính coóng thủy tinh 0,6cm, một đầu cóng thủy tinh nối với ống hút bằng nhựa màu xanh dài 6,3 cm, đường kính 0,5 cm.
Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, bên trong lắp sim số thuê bao 0339266234 và 01 chiếc bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt màu trắng do Đặng Thế T2 giao nộp; thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A06 bên trong lắp sim số thuê bao 0389123724 do Vũ Văn P giao nộp; thu giữ tại nhà ở của Vũ Văn P 01 vỏ bao thuốc lá vinataba màu vàng, bên trong có 01 cóng thủy tinh trong suốt hình chữ L, đường kính ống cóng 0,6cm, kích thước hình chữ L cao 7,5cm và rộng 3,5cm có bám muội màu đen; 01 ống nhựa màu trắng, đường kính 0,5cm, dài 10cm, 1 đầu dán băng đen dài 1,7cm; 01 nắp nhựa màu vàng hình tròn đường kính 3cm, cao 1, cm trên mặt nắp vỏ chai có đục sẵn 2 lỗ đường kính mỗi lỗ 0,6cm, những vật chứng trên được niêm phong trong 01 hộp giấy đựng bút bi nhãn hiệu matixs mực xanh, kích thước 15x6,5x3,5cm theo quy định (ký hiệu M1).
Ngày 23/10/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra quyết định trưng cầu phòng K1 Công an tỉnh N giám định chất ma túy đối với mẫu vật thu giữ ký hiệu KX01, KX02, KX03, KX04, KX05 và M1. Tại bản kết luận giám định số 899/KL-KTHS-MT ngày 28/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- - Tìm thấy Methamphetamine bám dính trong các mâu vật gửi giam định ký hiệu từ KX01 đến KX04. Lượng Methamphetamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.
- - Tìm thấy M và Ketamine bám dính trong các mẫu vật gửi giám định ký hiệu KX05 và M1. Lượng Methamphetamine và Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H1 lại đối tượng giám định gồm: 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 01 coóng thủy tinh (kí hiệu KX05), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 04 túi nilon, kí hiệu từ KX01 đến KX04, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong theo quy
5
định, trên túi niêm phong có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 899/KL-KTHS-MT vụ Trịnh Quốc T4, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thể T5 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa: 01 coóng thủy tinh kí hiệu M1; 01 ống nhựa màu trắng; 01 nắp nhựa màu vàng và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
Trong quá trình điều tra Trịnh Quốc T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về xử lý đồ vật, tài sản và vật chứng đã thu giữ: Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã ra quyết định chuyển vật chứng đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô để xử lý theo quy định của pháp luật gồm: 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 01 coóng thủy tinh (kí hiệu KX05), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 04 túi nilon, kí hiệu từ KX01 đến KX04, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong theo quy định, trên túi niêm phong có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định Số 899/KL-KTHS-MT vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa: 01 coóng thủy tinh kí hiệu M1; 01 ống nhựa màu trắng; 01 nắp nhựa màu vàng và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu đây là các mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ; 01 chiếc bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13 bên trong lắp 02 sim số thuê bao 0989408608 và 0866795035; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, bên trong lắp sim số thuê bao 0339266234; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06 bên trong lắp sim số thuê bao 0389123724.
Tại Bản Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trịnh Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố được công bố tại Cáo trạng nêu trên. Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị
6
cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Quốc T từ 3 năm đến 3 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 19/10/2024. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi “Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 01 coóng thủy tinh (kí hiệu KX05), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi “Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa 04 túi nilon, kí hiệu từ KX01 đến KX04, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01 túi niêm phong theo quy định, trên túi niêm phong có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 899/KL-KTHS-MT vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, bên trong chứa: 01 coóng thủy tinh kí hiệu M1; 01 ống nhựa màu trắng; 01 nắp nhựa màu vàng và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu đây là các mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ; 01 chiếc bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt màu trắng; 04 sim số thuê bao 0989408608, 866795035, 0339266234 và 0389123724.
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A06.
- + Buộc bị cáo Trịnh Quốc T phải nộp lại số tiền 400.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Trịnh Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi, tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 19/10/2024; Kết luận giám định số 899/KL-KTHS-MT ngày 28/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở khẳng định: ngày 15/10/2024 tại thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Trịnh Quốc T đã bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Vũ Văn P và Đặng Thế T2 với số tiền 400.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trịnh Quốc T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
. . . . . .
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trịnh Quốc T với tội danh và các điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Quốc T thuộc tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý đối với chất ma túy của Nhà nước, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ, làm khánh kiệt về kinh tế của người sử dụng ma túy, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức pháp luật và năng lực điều khiển hành vi, nhận thức được hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo
8
vẫn thực hiện với lỗi cố ý, bán ma túy trái phép cho người khác để thu lời bất chính. Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm xét thấy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 07/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, chưa được xóa án tích nay lại cố ý thực hiện tội phạm mới nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo tự nguyện ra đầu thú; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, đã có 03 lần bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Các vật chứng sau đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và một số vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và vi phạm pháp luật, không còn giá trị sử dụng: 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T6 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 01 (một) coóng thủy tinh (kí hiệu KX05), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong"; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 04 (bốn) túi nilon, kí hiệu từ KX01 đến KX04, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong"; 01 túi niêm phong theo quy định, trên túi niêm phong có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 899/KL-KTHS-MT vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra
9
tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 01 (một) coóng thủy tinh kí hiệu M1, 01 (một) ống nhựa màu trắng, 01 (một) nắp nhựa màu vàng, Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 hộp giấy kích thước (26 x 17 x 8) cm niêm phong theo quy định trên hộp giấy có ghi "Vật chứng thu giữ của Trịnh Quốc T tại nhà nghỉ H2 thôn H, xã Y ngày 19/10/2024" (bên trong chứa 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ; 01 chai nhựa, vỏ màu vàng, thể tích 330 ml, đầu nắp chai có đục 2 lỗ, 1 lỗ có gắn 1 chiếc ống hút màu đỏ dài 19,5 cm, đường kính 0,5 cm; 01 chiếc ống hút bằng nhựa màu xanh dài 6,3 cm, đường kính 0,5 cm); 04 sim số thuê bao 0389123724; 0339266234, 0989408608 và 0866795035; 01 chiếc bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt màu trắng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: các vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13.
Buộc bị cáo phải nộp số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) là khoản thu lợi bất chính do bị cáo T bán ma túy cho T2 mà có để sung ngân sách nhà nước.
[5] Về một số tình tiết liên quan đến vụ án.
Về nguồn gốc ma túy: T khai mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực hồ L thuộc xóm G, xã Y, huyện Y ngày 15/10/2024, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đặng Thế T2 và Vũ Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 201 nhà nghỉ H3 vào ngày 16/10/2024. Quá trình điều tra xác định Đặng Thế T2 rủ Vũ Văn P sử dụng ma túy thì P đồng ý. T2 là người bỏ tiền để mua ma túy, P là người trực tiếp đi mua ma túy của Trịnh Quốc T rồi mang về phòng 201 nhà nghỉ H3 để cùng T2 sử dụng, ngoài ra không có ai khác tham gia sử dụng ma túy cùng với Đặng Thế T2 và Vũ Văn P. Trịnh Quốc T có hành vi sử dụng ma túy tại phòng 204 nhà nghỉ H2 vào tối ngày 18/10/2024. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T2, P, T là hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Thế T2, Vũ Văn P, Trịnh Quốc T là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Ông Phạm Hữu C1 là chủ nhà nghỉ H3 đã thiếu trách nhiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ để Đặng Thế T2 và Vũ Văn P sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 16/10/2024. Chị Vũ Thị C là người trực tiếp trông coi, quản lý hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ H2 đã thiếu trách nhiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ để Trịnh Quốc T sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/10/2024. Mặc dù ông C1, chị C không biết việc T2, P và T sử dụng ma túy tại phòng nghỉ tuy nhiên ông C1, chị C là người trực tiếp
10
quản lý hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý. Hành vi nêu trên của ông Phạm Hữu C1 và chị Vũ Thị C là hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển tài liệu đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với chị C, ông C1 là đúng theo quy định của pháp luật.
Anh Đặng Văn K là người kinh doanh dịch vụ cầm đồ được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngày 16/10/2024 anh K cho Đặng Thế T2 cầm cố chiếc xe mô tô BKS 35F1-019.54 để T2 lấy tiền mua ma túy, nhưng anh K không biết mục đích T2 cầm cố chiếc xe lấy tiền mua ma túy nên hành vi của anh Đặng Văn K không vi phạm pháp luật.
Anh Lê Văn H là người điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 35A- 110.28 chở Vũ Văn P đến thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để mua ma túy của Trịnh Quốc T đem về nhà nghỉ H3 sử dụng. Quá trình điều tra xác định anh H không biết việc P mua ma túy của T vào ngày 16/10/2024 nên không vi phạm pháp luật.
[6] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]Về án phí: bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quốc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc T 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/10/2024.
11
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T6 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 01 (một) coóng thủy tinh (kí hiệu KX05), toàn bộ vỏ bao gói niêm phong"; 01 phong bì giấy niêm phong theo quy định trên phong bì giấy có ghi "Công an tỉnh N, Phòng K1 số 899/KL-KTHS-MT, vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 04 (bốn) túi nilon, kí hiệu từ KX01 đến KX04, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong"; 01 túi niêm phong theo quy định, trên túi niêm phong có ghi "Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 899/KL-KTHS-MT vụ Trịnh Quốc T, SN 1993 bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn P, SN 2002 và Đặng Thế T2 SN 1993, xảy ra tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình, mẫu vật hoàn trả gồm: 01 (một) coóng thủy tinh kí hiệu M1, 01 (một) ống nhựa màu trắng, 01 (một) nắp nhựa màu vàng, Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 hộp giấy kích thước (26 x 17 x 8) cm niêm phong theo quy định trên hộp giấy có ghi "Vật chứng thu giữ của Trịnh Quốc T tại nhà nghỉ H2 thôn H, xã Y ngày 19/10/2024" (bên trong chứa 01 chiếc bật lửa ga, vỏ nhựa màu đỏ; 01 chai nhựa, vỏ màu vàng, thể tích 330 ml, đầu nắp chai có đục 2 lỗ, 1 lỗ có gắn 1 chiếc ống hút màu đỏ dài 19,5 cm, đường kính 0,5 cm; 01 chiếc ống hút bằng nhựa màu xanh dài 6,3 cm, đường kính 0,5 cm); 04 sim số thuê bao 0389123724; 0339266234, 0989408608 và 0866795035; 01 chiếc bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt màu trắng.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13.
- - Buộc bị cáo phải nộp số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.
Chi tiết như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Quốc T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
12
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Minh Hồng |
13
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Quốc T - Mua bán trái phép chất ma túy
