Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 3 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải và bà Trần Thị Thuý Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991

Nơi cư trú: thôn D, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991

Nơi cư trú: thôn D, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hoà giải và tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn H kết hôn vào ngày 10/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra mâu thuẫn. Đã nhiều lần vợ chồng hoà giải để níu kéo tình cảm nhưng không có kết quả, từ giữa năm 2023 vợ chồng chị đã quyết định sống ly thân. Chị Nguyễn Thị L làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn H để ổn định cuộc sống.

Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 01 con chung tên là Nguyễn Khánh N, sinh ngày 22/3/2020. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn được nuôi con, không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, biên bản hoà giải bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: anh và chị Nguyễn Thị L có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại UBND xã M (nay là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 10/9/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Khoảng tháng 6 năm 2023 chị L đã đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Đã nhiều lần anh H qua nhà ngoại khuyên nhủ vợ quay về để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị L không đồng ý. Chị L làm đơn xin ly hôn anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với vợ, anh xin chị L cho anh thêm cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nuôi con.

Anh thống nhất như trình bày của chị L, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung. Nếu ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con.

Tại phiên toà anh H nhất trí giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Văn H, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; anh H có nơi cư trú là thôn D, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung vụ án:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lanh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M (nay là xã H), huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 10/9/2018 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến tháng 6 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nên anh chị sống ly thân. Quá trình hoà giải và tại phiên toà chị L cương quyết đề nghị ly hôn. Xét thấy nguyện vọng anh H mong muốn đoàn tụ nhưng thực tế vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay, đời sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị L xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H là phù hợp.
    • - Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Lanh Nguyễn Văn H đều thống nhất trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Khánh N, sinh ngày 22/3/2020. Xét thấy sau ly hôn, nguyện vọng nuôi con của chị Lanh H là chính đáng. Tuy nhiên, cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp và tại phiên toà anh H thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị L được trực tiếp nuôi con Nguyễn Khánh N.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết tại Toà án và tại phiên toà chị L không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lanh Nguyễn Văn H thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét.

  1. Về án phí vụ kiện: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  2. Về quan hệ con chung: Giao chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Khánh N, sinh ngày 22/3/2020. Chị L không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.

  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
  4. Về án phí vụ kiện: Chị Nguyễn Thị L phải nộp tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002733 ngày 22 tháng 10 năm 2024, chị L đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bố Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã H
  • Số giấy CNKH 20 ngày 10/69/2018;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger