Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

phúc

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 14/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Hải
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Bành Quốc Trung
    2. Ông Lê Thanh Nghị
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1999, nơi sinh: Tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Số A, đường H, Khu phố D, Phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân số [...] ngày cấp: 02/7/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có chồng; Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2015 con nhỏ nhất sinh ngày 17/5/2024; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, cụ thể:

Ngày 03/8/2023, bị cáo bị Công an P1, thị xã G nay là thành phố G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 442/QĐ-XPHC (Không thấy biên lai đóng phạt).

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024; trong giai đoạn điều tra, truy tố thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phạm Thị R, sinh năm 1992 (Vắng mặt); Địa chỉ: Số A P, khu phố D, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  2. Chị Trần Trúc L, sinh năm 1998 (Vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố H, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  3. Anh Dương Hoàng Long H1, sinh năm 1989 (Vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố C, phường E, thành phố G, tỉnh Tiền Giang
  4. Chị Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1987 (Vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố H, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  5. Chị Lê Thị Thúy H3, sinh năm 1977 (Xin vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  6. Ông Nguyễn Huy C, sinh năm 1964 (Vắng mặt); Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang
  7. Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1970 (Xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp V, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  8. Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1988 (Vắng mặt); Địa chỉ: Khu phố A, phường E, thành phố G, tỉnh Tiền Giang
  9. Anh Nguyễn Minh L1, sinh năm 1998 (Vắng mặt); Địa chỉ: Ấp V, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng:

  1. Ông Trương Trần Truyền N, sinh năm 1962 (Vắng mặt); Địa chỉ: 115/15C khu phố 4, phường 5, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang
  2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 (Vắng mặt); Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020, loại ma túy bị cáo thường sử dụng là ma túy tổng hợp Methamphetamine. Từ tháng 5/2024, bị cáo bắt đầu bán ma túy cho các con nghiện khác để kiếm lời.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28 tháng 7 năm 2024, bị cáo liên hệ với một người tên thường gọi là Phạm Hữu C1 (bị cáo không biết rõ năm sinh, nhân thân cụ thể của người này, chỉ biết người này thuê trọ ở ấp X, xã T, thành phố G) để đặt mua ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Bị cáo được hẹn đến cầu Ấ, xã T, thành phố G để nhận ma túy. Khi bị cáo đến điểm hẹn thì C1 ném ma túy vào bụi cỏ ven đường, sau đó đến gặp bị cáo nhận tiền rồi chỉ cho bị cáo vị trí ném ma túy để bị cáo tự đi nhặt. Bị cáo mang ma túy về cất giấu tại nơi đang thuê trọ là Phòng C8 của Nhà trọ H6, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Với số ma túy vừa mua được này, Bị cáo phân ma túy ra thành gói nhỏ hơn để bán cho những người như sau:

  • - Bán cho một nam thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Phòng trọ C8.
  • - Đến khoảng 09 giờ 40 phút giờ ngày 29/7/2024, bị cáo bán cho một người tên thường gọi là D ở ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang với giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Phòng trọ C8.
  • - Số ma túy còn lại được để trong 01 gói ny-lon trong suốt dạng túi zip có một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín, 01 gói ny-lon trong suốt được hàn kín và 02 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu. Bị cáo liên hệ bán số ma túy này cho người tên thường gọi là Đ (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể) với giá 700.000 đồng(bảy trăm nghìn đồng), địa điểm giao ma túy là khu vực trước Khách sạn “Tigon” tọa lạc tại Khu phố D, Phường E, thành phố G.
  • Bị cáo giấu gói ny-lon trong suốt (dạng túi zip được vuốt kín) có chứa ma túy ở phía sau lớp vải lót của mũ bảo hiểm rồi đội lên đầu; giấu 01 gói ny-lon trong suốt (được hàn kín) có ma túy và 02 đoạn ống hút có ma túy vào 01 túi ny-lon màu đen, Bị cáo vừa giữ túi đen này trong lòng bàn tay phải, vừa điều khiển xe mô tô biển số 63K4-9579 để đi giao ma túy.
  • Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị cáo điều khiển xe 63K4-9579 đến đường H thuộc Khu phố D, Phường E, thành phố G thì gặp lực lượng phối hợp của Công an thành phố G và Công an P2, thành phố G đang tuần tra phòng chống tội phạm. Phát hiện bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an tiến hành chặn dừng kiểm tra. Lúc này, bị cáo buông tay phải ra khỏi tay nắm xe để gói ma túy rơi xuống mặt đường ngay tại vị trí bị cáo và xe 63K4-9579 đang dừng, nhưng hành vi của bị cáo bị lực lượng Công an phát hiện. Tiếp tục kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện gói ma túy bị cáo cất giấu trong mũ bảo hiểm đang đội trên đầu. Bị cáo thừa nhận tất cả số ma túy trên là của bị cáo, nên Công an thành phố G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo.

Đồ vật, tài liệu thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang gồm:

  • - 01 (một) gói ny-lon màu đen được bóp kín, bên trong có: 01 (một) bịch ny-lon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn trong suốt và 02 (hai) đoạn ống hút được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất nghi là ma túy.
  • - 01 (một) bịch ny-lon trong suốt dạng túi zip có một đầu viền màu đỏ được vuốt kín, bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy và 01 (một) đoạn ống hút màu trắng có một đầu được vuốt kín và một đầu được cắt nhọn bên trong có chất nghi là ma túy.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có viền màu hồng trên mũ có chữ “Vespa”.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 63K4-9579.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO” màu xanh - bạc.
  • - 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng và 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.

Đến 13 giờ 15 phút ngày 29 tháng 7 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố G tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo tại Phòng H6. Kết quả khám xét đã phát hiện và thu giữ các vật chứng, đồ vật liên quan gồm:

  • - 01 (một) đoạn ống hút màu đen có một đầu bóp kín, một đầu cắt nhọn.
  • - 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu bạc.
  • - 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, cán bọc nhựa màu đen.
  • - 10 (mười) gói ny-lon trong suốt không chứa gì bên trong.

Theo Kết luận giám định số 127/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với các chất nghi vấn là ma túy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo như sau:

  • - Gói 1: Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7030 gam, loại Methamphetamine (trong đó: Mẫu ký hiệu M1.1 có khối lượng 0,4780 gam, mẫu ký hiệu M1.2 có khối lượng 0,1049 gam và mẫu ký hiệu M1.có 3 khối lượng 0,1201 gam).
  • - Gói 2: Các mẫu tinh thể trong suốt gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,8213 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là 4,5243 gam (bốn phẩy năm hai bốn ba gam).

Kết quả điều tra xác định trước thời điểm bị phát hiện bị cáo đã bán ma túy cho những người dưới đây:

  • - Bán cho Phạm Thị R tổng cộng 06 lần; trong đó có 05 lần bán với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và 01 lần bán với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); địa điểm bán ma túy là tại Phòng trọ C8.
  • - Bán cho Trần Trúc L tổng cộng 02 lần, trong đó có 01 lần bán với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), 01 lần bán với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); địa điểm bán ma túy là tại quán nước “Lưu Luyến” tọa lạc khu phố H, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  • - Bán cho người tên thường gọi là D tổng cộng 05 lần, trong đó có 03 lần bán với giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), 02 lần bán với giá 200.000 (hai trăm nghìn đồng;) địa điểm bán ma túy là tại Phòng trọ C8.
  • - Bán cho người tên thường gọi là Đ tổng cộng 04 lần, trong đó có 03 lần bán với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), 01 lần bán với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng); địa điểm bán ma túy là tại quán nước giải khát “L” và lần chuẩn bị giao gần khách sạn T3 thì bị phát hiện.
  • - Bán cho người tên thường gọi là T1 ở Phường B, thành phố G tổng cộng 03 lần, trong đó có 02 lần bán với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), 01 lần bán với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), nhưng T1 không trả tiền mà đổi ma túy bằng thức ăn để đưa cho bị cáo; địa điểm bán ma túy là quán nước “Hồng A” tọa lạc tại khu phố G, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang và tại Phòng trọ C8.
  • - Bán cho Nguyễn Trúc D1 tổng cộng 02 lần, trong đó có 01 lần bán với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), 01 lần bán với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng); địa điểm bán ma túy là tại quán nước “Ước Mơ” tọa lạc tại khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
  • - Bán cho Nguyễn Hoàng P, tên gọi khác: Ba De tổng cộng 10 lần, trong đó có 09 lần bán với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), 01 lần bán với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); địa điểm bán ma túy là tại một quán nước nhưng Bị cáo không nhớ rõ vị trí.
  • - Bán cho một người thanh niên tên thường gọi là T2 01 lần với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bị cáo còn bán ma túy cho một số đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy khác nhưng bị cáo không biết rõ tên, nhân thân, địa chỉ của những người này; nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo có được từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là: 800.000 đồng (Ri) + 500.000 đồng (L) + 850.000 đồng (D) + 1.900.000 đồng (Đ) + 400.000 đồng (Trúc) + 600.000 đồng (D1) + 3.800.000 đồng (P) + 300.000 đồng (T2) + 300.000 đồng (người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ); tổng cộng 9.450.000 đồng (Chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSTPGC ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận bị cáo bán ma tuý cho 10 người sử dụng trái phép chất ma túy khác nhau với tổng cộng 35 lần bán, trong đó có 01 lần vào ngày 29/7/2024 bị cáo đang trên đường đi bán ma túy thì bị phát hiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 08 năm tù đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được trừ vào thời giam tạm giữ từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024.

3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ:

  • - Ma túy còn lại sau giám định:
    • + Gói 1: Các mẫu tinh thể trong suốt còn lại sau giám định ký hiệu M1.1 = 0,4405 gam, M1.2= 0,0883 gam và M1.3 = 0,0848 gam, được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu vụ số 127/1 ghi ngày 31 tháng 7 năm 2024.
    • + Gói 02: Các mẫu tinh thể trong suốt ký hiệu M2 còn lại sau giám định có khối lượng 3,7548 gam, được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu vụ số 127/2 ghi ngày 31 tháng 7 năm 2024.
  • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có viền màu hồng trên mũ có chữ Vespa.
  • - 01 (một) đoạn ống hút màu đen có một đầu bóp kín, một đầu cắt nhọn.
  • - 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu bạc.
  • - 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, cán bọc nhựa màu đen.
  • - 10 (mười) bịch ny-lon trong suốt không chứa gì bên trong.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO” màu xanh bạc. Điện thoại bị cáo dùng để bán ma túy.
  • - 02 (hai) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ 01 (một) mô tô biển số 63K4-9579.

Đối với số tiền thu lợi bất chính là 9.450.000 (chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, bị cáo thu lợi bất chính do bán ma tuý nên buộc bị cáo nộp vào ngân sách nhà nước.

4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị báo sớm về với con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[3]. Nội dung vụ án: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28 tháng 7 năm 2024, bị cáo liên hệ với một người tên thường gọi là Phạm Hữu C1 để đặt mua ma túy. Bị cáo mang ma túy về cất giấu tại nơi đang thuê trọ là Phòng C8 của Nhà trọ H6. Với số ma túy vừa mua được này, Bị cáo phân ma túy ra thành gói nhỏ hơn để bán cho những người như sau:

  • - Bán cho một nam thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Phòng trọ C8.
  • - Khoảng 09 giờ 40 phút giờ ngày 29/7/2024, bị cáo bán cho một người tên thường gọi là D với giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Phòng trọ C8.
  • - Số ma túy còn lại được để trong 01 gói ny-lon trong suốt dạng túi zip có một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín, 01 gói ny-lon trong suốt được hàn kín và 02 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu. Bị cáo liên hệ bán số ma túy này cho người tên thường gọi là Đ với giá 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), địa điểm giao ma túy là khu vực trước Khách sạn “Tigon” tọa lạc tại Khu phố D, Phường E, thành phố G.
  • Bị cáo giấu gói ny-lon trong suốt (dạng túi zip được vuốt kín) có chứa ma túy ở phía sau lớp vải lót của mũ bảo hiểm rồi đội lên đầu; giấu 01 gói ny-lon trong suốt (được hàn kín) có ma túy và 02 đoạn ống hút có ma túy vào 01 túi ny-lon màu đen, Bị cáo vừa giữ túi đen này trong lòng bàn tay phải, vừa điều khiển xe mô tô biển số 63K4-9579 để đi giao ma túy.
  • Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị cáo điều khiển xe 63K4-9579 đến đường H thuộc Khu phố D, Phường E, thành phố G thì gặp lực lượng phối hợp của Công an thành phố G và Công an P2, thành phố G đang tuần tra phòng chống tội phạm. Phát hiện bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an tiến hành chặn dừng kiểm tra. Lúc này, bị cáo buông tay phải ra khỏi tay nắm xe để gói ma túy rơi xuống mặt đường ngay tại vị trí bị cáo và xe 63K4-9579 đang dừng, nhưng hành vi của bị cáo bị lực lượng Công an phát hiện. Tiếp tục kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện gói ma túy bị cáo cất giấu trong mũ bảo hiểm đang đội trên đầu. Bị cáo thừa nhận tất cả số ma túy trên là của bị cáo, nên Công an thành phố G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo.

Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G; Kết luận giám định số 127/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, lời khai của người liên quan, người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng và là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, tội phạm hình sự khác.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thay đổi nhận thức về ma túy, có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6]. Đối với hành vi mua ma tuý của bị cáo:

  • + Bị cáo khai người bán ma túy cho bị cáo là Phạm Hữu C1 nhưng bị cáo không biết rõ năm sinh, địa chỉ cụ thể của người này, chỉ biết người này thuê trọ ở xã T, thành phố G. Kết quả xác minh tại Công an xã T thì không có người có thông tin như bị cáo cung cấp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn; ngoài lời khai của bị cáo thì hiện tại chưa có nguồn chứng cứ nào khác để chứng minh. Nên Cơ quan không có cơ sở để truy tìm, làm rõ vấn đề có liên quan.
  • + Bị cáo khai còn mua ma túy của Dương Hoàng Long H1. Tuy nhiên, kết quả đối chất giữa bị cáo với anh H1 thì H1 không thừa nhận có bán ma túy cho bị cáo; ngoài lời khai của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác. Nên Cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với H1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của:

  • + Chị Phạm Thị R và chị Trần Trúc L, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ cho Công an thành phố G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền mỗi người là 1.500.000 đồng; chị R và chị L đã thi hành xong. Riêng Bùi Văn N1 chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.
  • + Đối với Nguyễn Hoàng P (B) đã rời đi khỏi địa phương, không rõ nơi cư trú hiện tại nên chưa thể mời làm việc. Những người mua ma túy còn lại theo lời khai của bị cáo cung cấp gồm: D, Đ, T1, T2, D1, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra chưa rõ được thông tin của những người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố G tiếp tục theo dõi các trường hợp những người mua ma túy của bị cáo T, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[8]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[9]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[10]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[11]. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ:

  • Ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 53,00 gam, được niêm phong trong gói niêm phong số PS3 2005372;
  • 10 (mười) bịch ny-lon trong suốt, không chứa gì bên trong, có 03 mặt cạnh được hàn kín, 01 mặt cạnh hở miệng;
  • - 01 (một) cái kéo màu trắng bằng kim loại;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm bình nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có khoét lổ gắn ống thủy tinh và ống hút màu vàng;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu OPPO màu xanh đen, số IMEI 1: 869787049608278, số IMEI 2: 869787049608260, lắp sim số: 0922848267 – điện thoại này bị cáo sử dụng vào việc liên hệ mua ma tuý.
  • 02 (hai) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.

Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp số tiền 9.450.000 đồng (chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) – thu lợi bất chính sung vào ngân sách nhà nước.

[12]. Xe mô tô biển số 63K4-9579 do ông Nguyễn Huy C (sinh năm 1964, nơi thường trú: Ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang) đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe; vào khoảng năm 2019 ông C bán xe trên cho ông Nguyễn Văn H4 nhưng chưa làm thủ tục sang tên; Tháng 12/2023, con trai ông H4 là anh Nguyễn Minh L1 (sinh năm 1998) lấy xe mô tô trên đi chơi và cho bạn mượn nhưng không trả lại cho đến nay. Xét thấy việc ông C là chủ xe đã bán cho ông H4 nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên HĐXX xét thấy việc trả xe cho ông H4 là phù hợp. Nếu sau này các bên có tranh chấp quyền sở hữu sẽ khởi kiện trong vụ án khác.

[13]. Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[14]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b, khoản 2 Điều 251, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • - Các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ bắt bị cáo chấp hành án, trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024 đến ngày 07/8/2024.
  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu huỷ:

    • - Ma túy còn lại sau giám định:
      • + Gói 1: Các mẫu tinh thể trong suốt còn lại sau giám định ký hiệu M1.1 = 0,4405 gam, M1.2= 0,0883 gam và M1.3 = 0,0848 gam, được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu vụ số 127/1 ghi ngày 31 tháng 7 năm 2024.
      • + Gói 02: Các mẫu tinh thể trong suốt ký hiệu M2 còn lại sau giám định có khối lượng 3,7548 gam, được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu vụ số 127/2 ghi ngày 31 tháng 7 năm 2024.
    • - 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng có viền màu hồng trên mũ có chữ Vespa.
    • - 01 (một) đoạn ống hút màu đen có một đầu bóp kín, một đầu cắt nhọn.
    • - 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu bạc.
    • - 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, cán bọc nhựa màu đen.
    • - 10 (mười) bịch ny-lon trong suốt không chứa gì bên trong.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “OPPO” màu xanh bạc.
    • - 02 (hai) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng.

    Trả lại cho bị cáo 01 (một) tờ tiền Polyme dạng tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng.

    Trả 01 (một) mô tô biển số 63K4-9579 cho ông Nguyễn Minh H5, sinh năm 1970; Địa chỉ ấp V, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G)

    Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo nộp số tiền 9.450.000 đồng (chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) – thu lợi bất chính sung vào ngân sách nhà nước.

    Thời gian thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự thành phố Gò Công;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Ngọc Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger