Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 10-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

2. Ông Lê Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 05/2025/ HSST-QĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phan Văn N (Đen) - sinh ngày 10/02/1987. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Ấp Tân Thạnh, xã Tân Hiệp A, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: khu phố Kinh 10B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Cao Đài. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Phan Văn T, sinh năm 1963 và bà Võ Thị P, sinh năm 1963. Vợ: Trần Thị Thanh T, sinh năm 1994 (đã ly hôn). Con ruột: 01 người, sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không. Ngày 08/10/2024 thực hiện hành vi cướp tài sản, bị tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam đến nay (bị cáo có mặt).

* Người bị hại:

Nguyễn Thị Bích T - sinh năm 2005 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Văn T - sinh năm 1963 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

  3. Võ Ngọc T - sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: khu phố Kinh 10B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn N là người làm nghề mua bán nước đá tại Ki-ốt trong khu vực Chợ Sao Mai thuộc khu phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Do thu nhập từ hoạt động mua bán nước đá không đủ tiêu xài và trả nợ cá nhân nên N nảy sinh ý định đi cướp tài sản của người khác. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, N lấy một cây dao Thái Lan (cán gỗ dài 23cm thường dùng cắt dây cột bao nước đá) để lên xe và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng-đen, biển số 68T1-6358 đi theo Quốc lộ 80 về hướng huyện C, tỉnh Kiên Giang để tìm người cướp tài sản. Nam điều khiển xe đến đoạn Cầu số 3 nhỏ giáp với huyện C nhưng chưa gặp được ai để cướp tài sản nên quay xe điều khiển về hướng huyện T .

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, N điều khiển xe về đến ngã ba Kinh 5 thuộc ấp Đ, xã T thì phát hiện chị Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 16/6/2005, thường trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang đang đeo túi xách, đứng một mình cặp lề đường phía Kênh Cái Sắn để đón xe về nhà. Lúc này, N điều khiển xe quay lại hỏi chị T có đi xe ôm không. Chị T hỏi giá đi về Kinh Tràm, mặc dù không biết địa điểm mà chị T yêu cầu chở về nhưng N vẫn nói giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) nhằm cho chị T tin tưởng và đồng ý đi. Thời điểm này trời đang mưa nhỏ, N đưa chị T một cái áo mưa mặc một lần để mặc vào và điều khiển xe mô tô chở chị T rẽ vào Tỉnh lộ 963 về hướng Uỷ ban nhân dân xã T . Khi đi đến đoạn giao với đường dẫn lên tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, N điều khiển xe rẽ vào đường dẫn, chị T biết đây không phải là đường về nhà nên nghi ngờ và dùng tay đánh vào người của N làm cho tay lái loạng choạng, N phải dừng xe lại. Chị T nhảy xuống xe bỏ chạy và tri hô “Cướp, cướp”, N dựng chân chống xe lấy dao Thái Lan đuổi theo một đoạn khoảng 07 mét thì đuổi kịp. N nắm tay chị T lại đưa dao ra kề vào vùng cổ đe dọa kêu “im” để uy hiếp, khống chế. Chị T không tri hô nữa mà vẫn giằng co thoát ra được nhưng đã bị N cướp 01 (một) túi xách. Sau khi cướp được tài sản, N chạy lại xe mô tô điều khiển lên tuyến Lộ Tẻ - Rạch Sỏi đi về nhà bỏ lại hiện trường 01 (một) chiếc dép quai kẹp bên trái màu đen. Chị T sau khi bị cướp tài sản thì được người dân đưa đến Công an xã T trình báo.

Sau khi về đến chỗ ở tại thị trấn T, N lấy túi xách cướp được ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 01 (một) ví da màu nâu, 01 (một) điện thoại Iphone, 03 (ba) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, tiền Việt Nam 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) và một số giấy tờ cá nhân. N lấy tiền và điện thoại cất vào túi quần, đem 03 đôi bông tai cất vào trong 01 hộp nhựa nhỏ màu đỏ đựng trang sức, 02 vỏ hộp nhựa còn lại để vào trong túi xách. Đến sáng ngày 08/10/2024, N điều khiển xe đi ra ki-ốt thuê trong chợ Sao Mai. Trên đường đi, N để bóp đựng giấy tờ ở gần cầu Tân Hiệp và ném túi xách xuống sông. Sau khi đến ki-ốt N dùng tiền cướp được trả tiền mua nước đá, thấy điện thoại đã bị khóa Icloud và hiện lên tin nhắn của chị T, lo sợ bị phát hiện, N tắt nguồn, đem điện thoại quấn băng keo ném vào trong khu vực lau sậy bỏ hoang trong Chợ Sao Mai, 03 (ba) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng trong hộp nhựa chôn giấu dưới đất ở gần đó. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tự thú về hành vi phạm tội và khai nhận nơi chôn giấu tài sản.

Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với Phan Văn N về tội Cướp tài sản. Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn N đã tự thú về hành vi phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

* Việc thu giữ đồ vật tài liệu:

  • 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc, số máy MU2Q3CH/A, số rê-ri: KJK2FKG22N, tình trạng đã qua sử dụng, sau lưng điện thoại dưới kế góc bên phải có một dấu nứt vỏ bên ngoài.
  • 03 (ba) đôi bông tai loại khoen tròn nhỏ, bằng kim loại màu vàng để trong 01 (một) cái hộp nhựa tròn nhỏ màu đỏ (loại hộp đựng nữ trang) trên nắp hộp có dòng chữ “Tiệm vàng Kim Tiền, 3636189, DDT Chợ Lái Thiêu”.
  • 01 (một) cây dao Thái Lan cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao nhọn bằng kim loại màu trắng có chiều dài 11,5cm. Tổng chiều dài là 23cm.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu Trắng Đen Bạc, biển kiểm soát 68T1-6358, tình trạng đã qua sử dụng, không có gắn bửng trước.
  • 01 (một) nón bảo hiểm thể thao ba sọc bằng da màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) bộ áo mưa (quần, áo) màu xanh đen, trên ngực trái có logo nền xanh, viền vàng, chữ trắng “RAINCOAT LION”, sau lưng có một sọc ngang dạ quang màu xám, tay áo phía sau có màu xanh dương.
  • 01 (một) đôi dép kẹp xỏ ngón màu đen, trên quai có dòng chữ Abercrombie, size 42, kích thước dài nhất 27,4cm, rộng nhất 10,7cm.
  • 01 (một) đôi dép kẹp, xỏ ngón màu đen; mặt trên quai màu trắng có dòng chữ màu đen “SNEAKER BUZZ”, mặt dưới quai màu cam, kích thước nơi dài nhất là 24cm, rộng nhất là 10,5cm.
  • 01 (một) cái bóp da sọc ca rô màu đen, bạc (loại dùng đựng giấy tờ), bên trong có 01 (một) căn cước công dân tên Nguyễn Thị Bích T ; 01 (một) căn cước công dân tên Hứa Hữu T; 01 (một) Chứng minh nhân dân tên Hứa Hữu T; và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên chủ sở hữu Mai Thành C, biển số đăng ký 61C1-828.36.
  • Đối với 01 (một) túi xách màu xanh, bị cáo Phan Văn N ném bỏ xuống sông tại khu vực cầu Tân Hiệp, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

* Tại biên bản xác định vật chứng ngày 09/10/2024, 03 (ba) đôi bông tai loại khoen tròn nhỏ, bằng kim loại màu vàng để trong 01 (một) cái hộp nhựa tròn nhỏ màu đỏ (loại hộp đựng nữ trang) trên nắp hộp có dòng chữ “Tiệm vàng Kim Tiền, 3636189, DDT Chợ Lái Thiêu” là vàng 18K, có trọng lượng 1,43gam (0,38 chỉ).

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/2024/KL-HĐĐG ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • “- 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc (đã qua sử dụng), có giá 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng).
  • - 03 (ba) đôi bông tai loại vàng 18K có giá trị mua vào là 4.800.000 đồng x 0,38 chỉ = 1.824.000 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
  • - 01 (một) cái bóp và 01 (một) túi xách qua sử dụng không có thương hiệu. Hội đồng thống nhất không thẩm định.
  • Tổng giá trị tài sản cần định giá 24.824.000 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn đồng)”.

Như vậy, giá trị tài sản mà Phan Văn N cướp được gồm tiền Việt Nam 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) và các tài sản qua định giá 24.824.000 đồng (hai mươi bốn triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng là 25.364.000 đồng (hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

* Cáo trạng số 03/CT-VKSTH ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên xử bị cáo Phan Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn N mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tạm giam tính từ ngày 08/10/2024.
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:
    • + 01 (một) cây dao Thái Lan cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, một bề sắc bén có chiều dài 11,5cm. Tổng chiều dài là 23cm.
    • + 01 (một) nón bảo hiểm thể thao ba sọc bằng da màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng.

+ 01 (một) bộ áo mưa màu xanh đen, trên ngực trái có logo nền xanh, viền vàng, chữ trắng “RAINCOAT LION”, sau lưng có một sọc ngang dạ quang màu xám, tay áo phía sau có màu xanh dương; Tình trạng: Đã qua sử dụng.

+ 01 (một) đôi dép kẹp, xỏ ngón màu đen, trên quai có dòng chữ “Abercrombie”, số 42, kích thước dài 27,4cm, rộng nhất 10,7cm; Tình trạng: Đã qua sử dụng.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 206 ngày 09/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T .

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bích T đã nhận lại số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) gồm tiền bị cướp và tiền bồi thường giá trị của túi xách bị mất và không yêu cầu gì thêm.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với người bị hại Nguyễn Thị Bích T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thị Bích T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Văn T đã có lời khai, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Do không có tiền tiêu xài, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, tại ấp Đông Thọ A, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, bị cáo Phan Văn N đã dùng dao Thái Lan đe dọa, khống chế chị Nguyễn Thị Bích T để cướp tài sản gồm: Tiền Việt Nam 540.000 đồng; túi xách, ví da, 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 Promax, 03 (ba) bông tai vàng 18K với tổng giá trị 25.364.000 đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc cướp tài sản của người khác là hành vi phạm pháp luật, mục đích sử dụng cho tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi cướp tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình, có tác dụng răn đe và đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo tự thú về hành vi phạm tội, có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để chuyển khung hình phạt liền kề nhẹ hơn đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bích T đã nhận lại số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) gồm tiền bị cướp và tiền bồi thường giá trị của túi xách bị mất và không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) cây dao Thái Lan cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, một bề sắc bén có chiều dài 11,5cm. Tổng chiều dài là 23cm.
  • - 01 (một) nón bảo hiểm thể thao ba sọc bằng da màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) bộ áo mưa màu xanh đen, trên ngực trái có logo nền xanh, viền vàng, chữ trắng “RAINCOAT LION”, sau lưng có một sọc ngang dạ quang màu xám, tay áo phía sau có màu xanh dương; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) đôi dép kẹp, xỏ ngón màu đen, trên quai có dòng chữ “Abercrombie”, số 42, kích thước dài 27,4cm, rộng nhất 10,7cm; Tình trạng: Đã qua sử dụng.

[8] Công nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại vật chứng theo Quyết định xử lý vật chứng số 622 ngày 18/10/2024; số 651 ngày 09/11/2024 cho chủ sở hữu:

  • - 01 (một) điện thoại Iphone 15 Promax màu bạc, số máy MU2Q3CH/A, số rê-ri KJK2FKG22N, tình trạng đã qua sử dụng, sau lưng điện thoại dưới kế góc bên phải có một dấu nứt vỏ bên ngoài; 03 (ba) đôi bông tai loại khoen tròn nhỏ, bằng kim loại màu vàng để trong 01 (một) cái hộp nhựa tròn nhỏ màu đỏ (loại hộp đựng nữ trang) trên nắp hộp có dòng chữ “Tiệm vàng Kim Tiền, 3636189, DDT Chợ Lái Thiêu”; 01 (một) đôi dép kẹp, xỏ ngón màu đen; mặt trên quai màu trắng có dòng chữ màu đen “SNEAKER BUZZ”, mặt dưới quai màu cam, kích thước nơi dài nhất là 24cm, rộng nhất là 10,5cm; 01 (một) cái bóp da sọc ca rô màu đen, bạc (loại dùng đựng giấy tờ), bên trong có 01 (một) căn cước công dân tên Nguyễn Thị Bích T ; 01 (một) căn cước công dân tên Hứa Hữu T; 01 (một) Chứng minh nhân dân tên Hứa Hữu T; và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy tên chủ sở hữu Mai Thành C, biển số đăng ký 61C1-828.36 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu Trắng Đen Bạc, biển kiểm soát 68T1-635.88, tình trạng đã qua sử dụng, không có gắn bửng trước. Xe thuộc sở hữu của ông Phan Văn T là cha bị cáo, ông T cho bị cáo mượn sử dụng để giao nước đá, không hay biết việc bị cáo dùng xe của mình đi cướp tài sản nên không có căn cứ để xử lý, là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt: Bị cáo Phan Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu tiêu hủy:

    • - 01 (một) cây dao Thái Lan cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, một bề sắc bén có chiều dài 11,5cm. Tổng chiều dài là 23cm.
    • - 01 (một) nón bảo hiểm thể thao ba sọc bằng da màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) bộ áo mưa màu xanh đen, trên ngực trái có logo nền xanh, viền vàng, chữ trắng “RAINCOAT LION”, sau lưng có một sọc ngang dạ quang màu xám, tay áo phía sau có màu xanh dương; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) đôi dép kẹp, xỏ ngón màu đen, trên quai có dòng chữ “Abercrombie”, số 42, kích thước dài 27,4cm, rộng nhất 10,7cm; Tình trạng: Đã qua sử dụng.

    Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSTH ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Buộc bị cáo Phan Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện T ;
  • - Chi cục THADS huyện T ;
  • - Công an huyện T ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về cướp tài sản

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Phan Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger