|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 10-3-2025 V/v: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không ĐKKH. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên; Ông Đèo Văn Vĩnh.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên
Ngày 10/3/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 12 năm 2024, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lý Vần N, sinh năm 1982; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
Bị đơn: Chị Tẩn Sử M, sinh năm 1983; Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2024, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lý Vần N trình bày:
Anh và chị Tẩn Sử M về chung sống với nhau từ năm 2001, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống anh và chị M hạnh phúc được khoảng hơn 20 năm, đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, là do chị M đi theo người đàn ông khác và khi anh nhắc nhở thì chị M hành hung anh nhiều lần. Chị M thường xuyên bỏ mặc gia đình và làm ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Anh và chị đã có 02 con chung, thời gian chung sống đã lâu nhưng đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn và không mong muốn đăng ký kết hôn với nhau nên anh đề nghị Toa án giải quyết ly hôn và do không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị M.
Về con chung: Anh và chị Tẩn Sử M có 02 con chung là Lý Quang M1, sinh ngày 04/4/2003 và Lý Thanh T, sinh ngày 05/12/2007. Hiện con chung Lý Quang M1 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết; con chung Lý Thanh T chưa đủ 18 tuổi, đang học lớp 12 và ở với anh, chị M thường xuyên đi làm ăn xa, để có điều kiện chăm sóc và động viên con chuẩn bị thi tốt nghiệp trung học phổ thông nên anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị M phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Tẩn Sử M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân giữa chị và anh N đúng như anh N đã trình bày. Chị xác nhận năm 2001 chị và anh N về chung sống với nhau, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn và chung sống hơn 20 năm cũng không đăng ký kết hôn do không hiểu biết pháp luật. Thời gian đầu anh chị chung sống rất hạnh phúc nhưng sau đó do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên chị thường xuyên phải đi làm xa nhà dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Anh N không muốn tiếp tục chung sống với chị và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, không công nhận quan hệ vợ chồng thì chị nhất trí.
Về con chung: Chị xác nhận anh N trình bày về phần con chung là đúng. Hiện nay con chung Lý Quang M1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Lý Thanh T cho đến khi con chung trưởng thành và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Tẩn Sử M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng, từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, chính xác trình tự thủ tục tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lý Vần N và chị Tẩn Sử M. Về con chung, do con chung Lý Quang M1 đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết; giao con chung Lý Thanh T cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung do nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện ý kiến của đương sự Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Tẩn Sử M cư trú bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Vần N và chị Tẩn Sử M về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn và đến nay cũng không đăng ký kết hôn. Ủy nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu xác nhận anh N và chị M sống cùng nhau từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa anh Lý Vần N và chị Tẩn Sử M là hôn nhân không hợp pháp. Sau khi về chung sống với nhau, anh N và chị M chung sống không hạnh phúc, kéo dài nhiều năm. Quá trình giải quyết, tại phiên tòa anh N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng với chị M và chị M nhất trí. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh N và chị M là quan hệ hôn nhân không hợp pháp nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa Anh Lý Vần N và Chị Tẩn Sử M theo quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Đối với con chung Lý Quang M1 đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với con chung Lý Thanh T, xét nguyện vọng của anh N muốn được trực tiếp nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của cháu Lý Thanh T muốn ở cùng bố. Hơn nữa, chị M thường xuyên đi làm xa nhà, cháu T đang học năm cuối trung học phổ thông cần có sự chăm sóc, động viên để học tập tốt hơn nên cần giao cháu T cho anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh N không yêu cầu chị M phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về chia tài sản: Nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Do nguyên đơn anh Lý Vần N là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 57; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Lý Vần N và chị Tẩn Sử M.
2. Về con chung:
Do con chung Lý Quang M1, sinh ngày 04/4/2003 đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Giao con chung Lý Thanh T, sinh ngày sinh ngày 05/12/2007 cho anh Lý Vần N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Chị Tẩn Sử M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lý Vần N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn anh Lý Vần N.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về không công nhận quan hệ hôn nhân giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đkkh.
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không ĐKKH.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lý Vần Niền xin ly hôn với chị Tẩn Sử M
