Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC BÌNH

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 03-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn và bà Chu Mai Hương.

  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Nhật Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại Nhà văn hóa xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Vi Văn T, sinh ngày 06/02/1979 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn 3/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị C; vợ: Nông Thị D, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 08/2011/HS-ST ngày 28/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Vi Văn T 03 năm tù về tội Buôn bán hàng cẩm. Tại Bản án số 54/2020/HS-ST ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình xử phạt Vi Văn T 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ 02 bản án và được xóa án tích; chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình đến nay. Có mặt.

  2. Vương Văn T1, sinh ngày 27/8/1991 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị X; vợ: Đặng Thị T2; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: Không có; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại Bản án số 43/2021/HS-ST, ngày 14/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Qua xác minh bị cáo đã chấp hành án phạt tù ngày 04/6/2024, tính đến thời điểm phạm tội lần này (ngày 28/7/2024) bị cáo chưa được xóa án tích và thuộc trường hợp “Tái phạm”; nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình cho đến nay. Có mặt.

  3. Hoàng Văn Q, sinh ngày 06/7/1992 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P và bà Vương Thị N1; vợ: Sầm Thị B; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án: Không có; tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 32/QĐ-XPTT ngày 27/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Hoàng Văn Q trong thời hạn 03 tháng; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 12/7/2022 của Công an xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hoàng Văn Q hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 10/4/2023 của Công an xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hoàng Văn Q số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xác minh bị cáo thi hành xong quyết định trên vào ngày 18/4/2023. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình đến nay. Có mặt.

  4. Vi Văn T3, sinh ngày 04/9/1997 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ học vấn 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị T4; vợ: Vương Thị Bé T5; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 30/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 27/8/2024, tổ công tác Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện 03 (ba) đối tượng di chuyển bằng 02 (hai) xe mô tô có biển kiểm soát (BKS) là: 12K2 - 4978 và 12LA - 042.32 có biểu hiện vi phạm pháp luật về ma túy. Tổ công tác tiến hành dừng xe kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại cốp xe mô tô BKS: 12LA - 042.32 có 03 (ba) túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là chất ma túy). Các đối tượng khai nhận có họ và tên lần lượt là: Vi Văn T (là người điều khiển xe mô tô BKS: 12LA - 042.32); Vương Văn T1 (là người điều khiển xe mô tô BKS: 12K2 - 4978) và Hoàng Văn Q (là người ngồi sau xe BKS: 12K2 - 4978). Các đối tượng khai nhận 03 (ba) túi nilon bị lực lượng chức năng thu giữ là túi ma túy Heroin của Vi Văn T, Vương Văn T1 và Hoàng Văn Q mua được tại khu vực thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác đã đưa cả 03 (ba) đối tượng cùng tang vật về trụ sở để lập biên bản, niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ và xác minh, làm rõ sự việc.

Căn cứ lời khai của đối tượng và tài liệu, chứng cứ thu thập được, xác định Vi Văn T3 có hành vi góp tiền cùng Hoàng Văn Q mua ma túy để sử dụng ngày 27/8/2024.

Vật chứng thu giữ:

  • - Vi Văn T: 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y55, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 865548069554592, số IMEI 2: 865548069554584 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 869945067443313, số IMEI 2: 869945067443305 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
  • - Vương Văn T1: 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 868872068169328, số IMEI 2: 86887268169336 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
  • - Hoàng Văn Q: 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 866155055525336, số IMEI 2: 866155055525328 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.
  • - Vi Văn T3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO5, màu xám, dạng màn hình cảm ứng số IMIEL1: 865545058216670, IMIEL2: 865545058216662, tình trạng máy (cũ) đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 12K2-4978, màu đỏ - đen, số khung: C6207X015985, số máy: 5C62015985, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, tên Nông Thị Phương T6.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 12LA-042.32, màu đen, số khung: RLHJA3931PY654162, số máy: JA70E0224116, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, tên Nông Thị D.

Tại Bản Kết luận giám định số: 922/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận về đối tượng giám định:

  • - 01 (một) phong bì ghi chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vương Văn T1 khi bắt quả tang ngày 27/8/2024", bên trong có: Chất bột màu trắng dạng cục có trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 2,237 gam (đã trừ bì).

  • - 01 (một) phong bì ghi chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Hoàng Văn Q khi bắt quả tang ngày 27/8/2024", bên trong có: Chất bột màu trắng dạng cục có trong 01 (một) túi nilon màu trắng được cuốn, dính lại thành hình tròn gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 1,629 gam (đã trừ bì).

  • - 01 (một) phong bì ghi chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vi Văn T khi bắt quả tang ngày 27/8/2024", bên trong có: Chất bột màu trắng dạng cục có trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 3,712 gam (đã trừ bì).

Tổng số 03 (ba) gói ma túy Heroin nêu trên có khối lượng 7, 578 gam (đã trừ bì).

Quá trình điều tra, xác định được diễn biến nội dung vụ án như sau:

Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q và Vi Văn T3 đều là người nghiện ma túy, bị lệ thuộc vào chất ma túy Heroin và không có việc làm ổn định. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 26/8/2024, Vi Văn T3 sử dụng tài khoản Zalo "Anh T3" của Vi Văn T3 để nhắn tin cho tài khoản Zalo "Hoàng Q" của Hoàng Văn Q để rủ Hoàng Văn Q góp tiền mua ma tuý về chia nhau sử dụng; Hoàng Văn Q và Vi Văn T3 thỏa thuận mỗi người góp 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để Hoàng Văn Q đi thành phố L mua ma túy. Hoàng Văn Q nhắn tin số tài khoản 103872948994 Ngân hàng Viettinbank của Hoàng Văn Q cho Vi Văn T3. Vi Văn T3 sử dụng ứng dụng Ngân hàng Viettinbank trên điện thoại chuyển từ số tài khoản 102874075025 của Vi Văn T3 đến số tài khoản của Hoàng Văn Q số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn). Hoàng Văn Q thông báo cho Vi Văn T3 qua Zalo đã nhận được tiền rồi Vi Văn T3 và Hoàng Văn Q thu hồi và xóa toàn bộ tin nhắn trên tài khoản Zalo.

Sau khi nhận được tiền của Vi Văn T3, Hoàng Văn Q đi đến nhà Vi Văn T chơi. Tại đây, Vi Văn T nói với Hoàng Văn Q đi ra thành phố L tìm mua ma túy về sử dụng, Hoàng Văn Q đồng ý và nói đợi Vương Văn T1 đi cạo nhựa thông về sẽ đi ra thành phố L mua xe máy rồi cùng đi. Hoàng Văn Q và Vi Văn T cùng đi đến nhà Vương Văn T1, rủ Vương Văn T1 đi mua ma túy về sử dụng. Tại nhà của Vương Văn T1, Hoàng Văn Q đưa cho Vi Văn T số tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó 1.250.000 đồng là tiền của Hoàng Văn Q còn 1.250.000 đồng còn lại là tiền của Vi Văn T3 góp để Vi Văn T cầm mua ma tuý.

Sau khi thống nhất được việc đi mua ma túy, Hoàng Văn Q một mình đón xe khách từ nhà của Vương Văn T1 ra đến khu vực ngã tư M, thành phố L thì xuống xe và vào quán nước vỉa hè ngồi uống nước chờ; còn Vi Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 12LA - 042.32 chở Vương Văn T1 ngồi phía sau đi đến thành phố L để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực cầu T thuộc địa phận xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Vi Văn T dừng xe lại và đưa cho Vương Văn T1 số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó 5.000.000 đồng là tiền của T và 2.500.000 là tiền Hoàng Văn Q đưa Vi Văn T và bảo Vương Văn T1 cầm tiền trực tiếp mua ma túy. Vương Văn T1 đồng ý, nhận số tiền Vi Văn T đưa rồi Vi Văn T tiếp tục điều khiển xe chở Vương Văn T1 đi đến thành phố L. Khi đi đến khu vực phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì Vi Văn T dừng xe lại, tại đây Vương Văn T1 gặp một người đàn ông lạ mặt giống người sử dụng ma túy nên Vương Văn T1 hỏi mua ma túy, người này đồng ý. Vương Văn T1 thỏa thuận mua 02 (hai) chỉ ma túy Heroin của người đàn ông với giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), trong đó 7.500.000 đồng là tiền của Vi Văn T đưa cho Vương Văn T1 và 2.500.000 đồng là tiền của Vương Văn T1. Người đàn ông này nhận tiền rồi bảo Vương Văn T1 đợi và rời đi, khoảng 05 phút sau người đàn ông quay trở lại và đưa cho Vương Văn T1 03 (ba) túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất ma túy Heroin và nói với Vương Văn T1 có 02 (hai) túi nửa chỉ và 01 (một) túi một chỉ. Vương Văn T1 nhận ma túy rồi cùng Vi Văn T đi đến khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Trên đường đi, Hoàng Văn Q gọi điện thoại cho Vương Văn T1 thì Vương Văn T1 bảo Hoàng Văn Q đi lên khu vực nghĩa trang C. Hoàng Văn Q một mình đón xe ôm đến khu vực nghĩa trang huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, Vương Văn T1 lấy 03 (ba) gói ma túy vừa mua được ra. Hoàng Văn Q và Vương Văn T1 mỗi người nhận lấy một gói ma túy "nửa chỉ", Vi Văn T nhận lấy gói ma túy "một chỉ" rồi mỗi người tự cất giấu vào trong người. Sau khi chia ma túy xong, Vi Văn T điều khiển xe mô tô chở Vương Văn T1 và Hoàng Văn Q ngồi phía sau đi đến khu vực ngã tư M, thành phố L. Tại đây, Vương Văn T1 vào một cửa hàng xe máy cũ trên đường N, phường V, thành phố L để tìm mua xe mô tô. Tại đây, Vương Văn T1 gặp Nông Thị Phương T6 đang có ý định bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 12K2-4978, màu đỏ - đen, Vương Văn T1 đã mua xe mô tô của Nông Thị Phương T6 với giá tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi Vương Văn T1 mua được xe mô tô, Vương Văn T1 một mình điều khiển xe vừa mua được, còn Vi Văn T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Hoàng Văn Q ngồi phía sau rồi cùng nhau đi về. Khi đi được khoảng 500m, do lo sợ bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện số ma túy vừa mua được nên Hoàng Văn Q bảo với Vi Văn T về việc cả ba cùng cất giấu ma túy vào cốp xe mô tô của Vi Văn T thì được Vi Văn T đồng ý. Hoàng Văn Q tiếp tục lấy điện thoại gọi bảo Vương Văn T1 đến đường rẽ thôn N thì dừng lại cất ma túy vào xe của Vi Văn T. Khi đến đường rẽ vào thôn N, xã M, thành phố L thì Vi Văn T dừng xe cạnh đường. Khoảng 03 phút sau, Vương Văn T1 đi đến khu vực Vi Văn T và Hoàng Văn Q đang đứng đợi, Hoàng Văn Q vẫy Vương Văn T1 dừng lại để cất ma túy.

Vi Văn T, Hoàng Văn Q và Vương Văn T1 cùng nhau đi đến khu vực cổng chào thôn N, xã M, thành phố L, tỉnh lạng Sơn để cất giấu ma túy. Tại đây, Vi Văn T mở cốp xe mô tô của Vi Văn T rồi tự cất giấu số ma túy của Vi Văn T vào bên trong cốp xe. Tiếp đó, Vương Văn T1 đưa cho Hoàng Văn Q số ma túy của Vương Văn T1, Hoàng Văn Q nhận ma túy của T1 rồi cất giấu ma túy của Vương Văn T1 và ma túy của Hoàng Văn Q vào cốp xe Vi Văn T. Khi cất giấu ma túy xong, Vương Văn T1 điều khiển xe mô tô của Vương Văn T1 chở Hoàng Văn Q ngồi phía sau còn Vi Văn T tự điều khiển xe mô tô của Vi Văn T để đi về nhà. Khi về đến khu vực khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như đã viện dẫn ở trên.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Vi Văn T, VươngVăn Thanh, Hoàng Văn Q và Vi Văn T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSLB, ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vi Văn T3 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vi Văn T, Hoàng Văn Q; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Văn T1; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Văn T3; đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử bị cáo bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù; xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù; xử phạt bị cáo Vi Văn T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam các bị cáo. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý Heroin còn lại sau giám định và 03 (ba) túi nilon (cũ) trong 03 (ba) phong bì đã niêm phong, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng. Đề nghị tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 03 điện thoại di động tạm giữ của Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 do đây là phương tiện phạm tội mà các bị cáo sử dụng để trao đổi nhờ mua ma túy. Đề nghị trả lại 02 điện thoại di động tạm giữ của Vi Văn T do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 27/8/2024, tổ công tác Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực khu M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Vi Văn T, Hoàng Văn Q, Vương Văn T1 có hành vi cùng nhau tàng trữ trái phép tổng số khối lượng 7,578 gam chất ma túy Heroin, trong đó số ma túy Heroin của Vương Văn T1 có khối lượng 2,237 gam; số ma túy Heroin của Vi Văn T có khối lượng 3,712 gam; số ma túy Heroin của Hoàng Văn Q có khối lượng 1,629 gam. Số ma túy trên là do trước đó vào khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Vi Văn T, Hoàng Văn Q, Vương Văn T1 và Vi Văn T3 góp tiền để Vương Văn T1, Vi Văn T và Hoàng Văn Q đi ra thành phố L mua ma túy Heroin về chia nhau để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Vi Văn T, Hoàng Văn Q, Vương Văn T1 cùng nhau ra thành phố L mua ma túy, sau đó cùng nhau cất dấu vào trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 12LA - 042.32 do Vi Văn T điều kiển, do đó Vi Văn T, Hoàng Văn Q, Vương Văn T1 phải chịu trách nhiệm chung với tổng khối lượng 7,578 gam chất ma túy Heroin. Đối với Vi Văn T3 đã thỏa thuận và góp chung tiền với Hoàng Văn Q mỗi người 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) để Hoàng Văn Q đi mua ma túy về chia nhau sử dụng, do đó Vi Văn T3 phải chịu trách nhiệm đồng phạm với Hoàng Văn Q với số ma túy Heroin đã mua có trọng lượng là 1,629 gam. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Nhà nước nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy nên các bị cáo cố ý phạm tội để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của các bị cáo gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an trong khu vực.

[4] Các bị cáo Vi Văn T3, Hoàng Văn Q phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cô ý thực hiện tội phạm. Bị cáo Vi Văn T3 là người khởi xướng, rủ rê cùng góp tiền với bị cáo Hoàng Văn Q mua ma túy về để sử dụng. Trong đó mỗi bị cáo góp số tiền là 1.250.000 đồng mua ma túy về để sử dụng.

[5] Các bị cáo Vi Văn T, Hoàng Văn Q, Vương Văn T1 phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo Vi Văn T là người khởi xướng mua ma túy về sử dụng. Sau đó cùng đến rủ bị cáo Vương Văn T1 đi mua ma túy về sử dụng. Các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q cùng nhau ra thành phố L để mua ma túy, số tiền các bị cáo góp tiền mua ma túy cụ thể là Hoàng Văn Q góp 2.500.000 đồng (trong đó 1.250.000 đồng là tiền của Hoàng Văn Q, 1.250.000 đồng của Vi Văn T3), 5.000.000 đồng là tiền của Vi Văn T và 2.500.000 là tiền Vương Văn T1 để cùng mua ma túy về để sử dụng. Vương Văn T1 là người trực tiếp cầm tiền đi mua ma túy và cầm ma túy mua được về chia cho Vi Văn T và Hoàng Văn Q.

[6] Về nhân thân: Cả 03 bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q là người có nhân thân không tốt. Cụ thể:

[6.1] Bị cáo Vi Văn T: Tại Bản án số 08/2011/HS-ST ngày 28/3/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Vi Văn T 03 năm tù về tội Buôn bán hàng cấm. Tại Bản án số 54/2020/HS-ST ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình xử phạt Vi Văn T 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ 02 bản án và được xóa án tích.

[6.2] Bị cáo Vương Văn T1: Tại Bản án số 43/2021/HS-ST, ngày 14/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[6.3] Bị cáo Hoàng Văn Q: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 32/QĐ-XPTT ngày 27/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Hoàng Văn Q trong thời hạn 03 tháng. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 12/7/2022 của Công an xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hoàng Văn Q hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 10/4/2023 của Công an xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hoàng Văn Q số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xác minh bị cáo thi hành xong quyết định trên vào ngày 18/4/2023.

[6.4] Bị cáo Vi Văn T3 là người có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vương Văn T1: Tại Bản án số 43/2021/HS-ST, ngày 14/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích nay bị cáo lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác còn lại đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Vi Văn T3 phạm tội nghiêm trọng, các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q phạm tội rất nghiêm trọng và đều là người có nhân thân không tốt, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thể hiện các bị cáo có ý coi thường pháp luật. Do vậy cần xét xử các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cũng như cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân cho các bị cáo để quyết định hình phạt, cho các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người sử dụng ma túy, không có thu nhập, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

[11] Về vật chứng:

[11.1] Đối với 1,909 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01(một) túi nilon (cũ) trong 01 (một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vương Văn T1 ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới; 1,349 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) trong 01 (một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Hoàng Văn Q ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới; 3,134 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) trong 01 (một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vi Văn T ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

[11.2] Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 868872068169328, số IMEI 2: 86887268169336 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Vương Văn T1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 866155055525336, số IMEI 2: 866155055525328 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Hoàng Văn Q; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO5, màu xám, dạng màn hình cảm ứng số IMIEL1: 865545058216670, IMIEL2: 865545058216662, tình trạng máy (cũ) đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Vi Văn T3. Các bị cáo đã sử dụng để liên lạc trao đổi mua ma túy về sử dụng, là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

[11.3] Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y55, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 865548069554592, số IMEI 2: 865548069554584 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 869945067443313, số IMEI 2: 869945067443305 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vi Văn T, bị cáo không sử dụng liên lạc trao đổi mua ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[12] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vương Văn T1 ngày 27/8/2024, tại khu vực phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, do bị cáo Vương Văn T1 và các bị cáo khác không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn không có căn cứ để điều tra làm rõ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nông Thị D, vợ của bị cáo Vi Văn T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 12LA-042.32, màu đen, số khung: RLHJA3931PY654162, số máy: JA70E0224116 và 01 (một) đăng ký xe mô tô; trả lại cho bà Hoàng Thị X, mẹ đẻ của bị cáo Vương Văn T1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 12K2-4978, màu đỏ - đen, số khung: C6207X015985, số máy: 5C62015985 và 01 (một) đăng ký xe mô tô là chiếc xe bị cáo Vương Văn T1 đi mua hộ cho bà Hoàng Thị X. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[14] Các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[15] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, đúng với các quy định của pháp luật về xử lý đối với hành vi trên nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[16] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Vi Văn T, Hoàng Văn Q;

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Văn T1;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Văn T3.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

  2. Về hình phạt:

    • Xử phạt bị cáo Vi Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.

    • Xử phạt bị cáo Vương Văn T1 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.

    • Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.

    • Xử phạt bị cáo Vi Văn T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2024.

  3. Xử lý vật chứng:

    3.1. Tịch thu, tiêu hủy:

    • - 1,909 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) trong 01 (một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vương Văn T1 ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

    • - 1,349 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) trong 01 (Một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Hoàng Văn Q ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

    • - 3,134 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) được đựng trong 01 (một) túi nilon (cũ) trong 01 (Một) phong bì có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Vi Văn T ngày 27/8/2024" (cũ), được dán kín, niêm phong bằng chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

    3.2. Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước:

    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 868872068169328, số IMEI 2: 86887268169336 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Vương Văn T1.

    • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A73, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 866155055525336, số IMEI 2: 866155055525328 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Hoàng Văn Q.

    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO5, màu xám, dạng màn hình cảm ứng số IMIEL1: 865545058216670, IMIEL2: 865545058216662, tình trạng máy (cũ) đã qua sử dụng là điện thoại thu giữ của Vi Văn T3.

    3.3. Trả lại cho bị cáo Vi Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y55, màu xanh than, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 865548069554592, số IMEI 2: 865548069554584 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, dạng màn hình cảm ứng, số IMEI1: 869945067443313, số IMEI 2: 869945067443305 tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/01/2025).

  4. Án phí: Các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - ......;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vi Văn T, Vương Văn T1, Hoàng Văn Q, Vi Văn T3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. 2. Về hình phạt: 2.1. Xử phạt bị cáo Vi Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024. 2.2. Xử phạt bị cáo Vương Văn T1 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024. 2.3. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024. 2.4. Xử phạt bị cáo Vi Văn T3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/8/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger