Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 26 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đình Rồng; Bà Phạm Thị Diệu Hạnh;

Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái, Ông Phạm Hồng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Duy H (tên gọi khác: Không);

Sinh ngày 02 tháng 12 năm 1997 tại huyện S, Tuyên Quang;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn P, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nông Văn T và bà Ma Thị K; Vợ: Ma Thị Thùy T1, sinh năm 2000;

Con: có 01 con sinh năm 2023. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 anh, em.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Cà Văn Q, sinh năm 1992 (Có mặt)

Nơi đăng ký HKTT: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La;

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;

- Người làm chứng:

  • + Anh Triệu Văn T2, sinh năm 1990;
  • Nơi thường trú: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái;
  • Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt)
  • + Anh Nông Duy T3, sinh năm 1993;
  • Nơi thường trú: Thôn P, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
  • Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; (Có mặt)
  • + Anh Phạm Văn S, sinh năm 1990;
  • Nơi thường trú: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Quang V1, sinh năm 1994; Trú tại: Cụm I, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội; (Vắng mặt)
  • + Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1973; Trú tại: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/9/2024, Nông Duy H (sinh năm: 1997, trú tại: thôn P, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang), anh Phạm Văn S (sinh năm: 1990, trú tại thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái), anh Triệu Văn T2 (sinh năm: 1990, trú tại: thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái), anh Cà Văn Q (sinh năm: 1992, trú tại Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La), anh Nguyễn Quang V1 (sinh năm 1994, trú tại Cụm I, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội) ăn cơm, uống rượu tại phòng của anh S trong khu tập thể của công ty TNHH X (địa chỉ tại tổ T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên). Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm rủ nhau đến quán B (địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) uống bia. Đến khoảng 22 giờ 00 phút, anh Nông Duy T3 (sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, là anh ruột của H) đến quán bia mượn xe mô tô của H và ngồi vào vị trí giữa anh T2 và anh V1 cùng uống bia. Khoảng 15 phút sau, anh S đi về trước còn H, anh Q, anh T2, anh V1, anh T3 tiếp tục uống bia, 05 người thống nhất mỗi người uống một cốc rồi nghỉ không uống nữa. Lúc này, H cầm cốc bia mời anh Q nhưng anh Q không uống, đổ bia hất ra nền nhà, thấy vậy H nói “Anh không tôn trọng em à” thì anh Q nói “không” rồi đập tay xuống bàn. Ngay lúc này, H đang ngồi trên ghế, tay phải cầm 01 chiếc cốc thuỷ tinh đang dùng để uống bia trên bàn (loại cốc tròn, không có quai, đường kính miệng cốc khoảng 7cm, đường kính đáy khoảng 5cm, cao khoảng 15cm) ném vào vùng đầu bên trái của anh Q làm chiếc cốc bị vỡ bắn vào mặt của anh Q, chân phải của anh T2 và bàn tay H gây nhiều vết thương rải rác kích thước từ 2cm đến 3cm tại vùng đầu, mặt của anh Q và 01 vết thương kích thước (2x0,5)cm tại cẳng chân phải của anh T2. Sau đó, anh T3 và anh V1 can ngăn, đẩy anh Q ra phía cửa quán, anh T2 và bà H1 (chủ quán) đẩy H vào phía trong thì sự việc chấm dứt, sau đó anh S đi đến cùng anhThanh, anh V1 đưa anh Q đến Bệnh viện C để khám và điều trị, anh T2 đi bộ về công ty còn H ở lại trả tiền uống bia và giúp bà H1 dọn dẹp quán, quá trình dọn dẹp bà H1 thu dọn mảnh thuỷ tinh vỡ từ chiếc cốc H dùng gây thương tích cho Q vứt ra thùng rác ngoài đường. (Bút lục 20 - 36)

Cơ quan CSĐT Công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật của Cà Văn Q và Triệu Văn T2.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 697/KLTTCT-TTPY ngày 24/9/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y xác định, kết luận thương tích của anh Q: Dấu hiệu chính qua giám định: Hiện tại có 08 sẹo vết thương phần mềm cùng mặt KT nhỏ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cà Văn Q tại thời điểm giám định là 22% (Hai mươi hai phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 730/KLTTCT-TTPY ngày 03/10/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y xác định, kết luận thương tích của anh T2: Hiện tại có 01 sẹo vết thương phần mềm KT nhỏ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Văn T2 tại thời điểm giám định là 1% (Một phần trăm).

Ngày 17/9/2024, anh Cà Văn Q có đơn đề nghị khởi tố vụ án, bị can đối với Nông Duy H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 BLHS. Anh Triệu Văn T2 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố bị can đối với Nông Duy H về hành vi gây thương tích cho mình.

Quá trình điều tra, bị can Nông Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của Nông Duy H phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án...

Về trách nhiệm dân sự: Ngoài số tiền 3.900.000đ Hà đóng viện phí, anh Cà Văn Q yêu cầu Nông Duy H phải bồi thường thêm số tiền là 40.000.000 đồng, đến nay H chưa bồi thường cho anh Q.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nông Duy H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát đã luận tội, giữ nguyên cáo trạng đối với bị cáo H về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Duy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách tư 48 đến 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét;

Về án phí: Đề nghị xem xét theo quy định pháp luật;

Bị cáo, bị hại không tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là không oan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai và nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình, xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ ngày 01/9/2024 tại quán B thuộc tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên Nông Duy H dùng cốc thủy tinh đập vào đầu anh Cà Văn Q gây thương tích cho anh Q với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22% (Hai mươi hai phần trăm) và gây thương tích cho Triệu Văn T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1% (Một phần trăm), tuy nhiên anh T2 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng ... hung khí nguy hiểm...;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

...đ) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội thấy: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà trong vụ án này là sức khoẻ của anh Cà Văn Q, hành vi của bị cáo gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và trong quá trình xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra trong quá trình nghị án HĐXX xem xét tình tiết tại phiên toà bị hại có ý kiến đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đã khắc phục và bồi thường toàn bộ thiệt hại và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử phạt tù từ 30 tháng đến 36 tháng và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo chưa bồi thường cho bị hại, trong quá trình chờ xét xử Bị hại anh Cà Văn Q xác định bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đ (Bốn mươi triệu đồng), bị hại nhất trí và không ý kiến gì, tại phiên toà cả bị cáo và bị hại đều xác định đã thoả thuận và đã bồi thường xong, cả bị cáo và bị hại không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và không đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận vào bản án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số, cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Các Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự của năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các Điều 299, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Duy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Duy H: 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nông Duy H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Duy H.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Sông Công;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Sông Công ;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - Thi hành án hình sự (02b);
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Th.báo KQXX cho UBND (Nơi bị cáo đăng ký HKTT kèm bản án);
  • - Lưu hồ sơ, VT.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Ngọc Hài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger