TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 26/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lường Thu Trang
2. Ông Hoàng Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:
Vi Văn H, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1981 tại Thái Nguyên; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Vi Văn D, sinh năm 1954 (đã chết) và con bà Bế Thị B, sinh năm 1955; Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên toà).
+ Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
( Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà).
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh ănm 1982;
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
( Vắng mặt tại phiên tòa).
+ Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
( Vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 12 phút ngày 08/5/2024, chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1991; Trú quán: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe mô tô BKS: 20A-718.64 đến đoạn đường thuộc Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V thì vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông nên bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát giao thông – trật tự, Công an huyện V dừng xe, lập biên bản vi phạm. Quá trình làm việc, chị H1 xuất trình 01 giấy phép lái xe ôtô hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/10/2023. Qua xác minh xác định: Sở Giao thông vận tải tỉnh T không cấp giấy phép lái xe trên đối với chị Nguyễn Thị Thu H1. Chị H1 trình bày trước đó đã nhờ Vi Văn H, sinh năm 1981; trú quán: xóm Đ, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên dạy và thi cấp giấy phép lái xe ô tô nêu trên. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc củng cố tài liệu và chuyển toàn bộ vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cơ quan điều tra Vi Văn H khai nhận như sau:
Vi Văn H không được tuyển dụng làm cán bộ, giáo viên, nhân viên hay cộng tác viên tại các cơ sở đào tạo lái xe. Do không có tiền ăn tiêu, nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu học và thi cấp Giấy phép lái xe ô tô với thủ đoạn, H đưa ra thông tin Hội là giáo viên dạy lái xe ô tô và nhận hồ sơ, tiền của những người có nhu cầu học lái xe rồi Hội tự tổ chức dạy cho những người này biết lái xe mà không qua các phần thi theo quy định. Sau đó Hội lên mạng xã hội mua giấy phép lái xe giả về đưa cho những người này, đồng thời chiếm đoạt số tiền mà H đã thu trước đó. Với thủ đoạn như nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 9/2023, H đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của nhiều người, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng tháng 4 năm 2023, anh Nguyễn Hồng C, sinh năm 1977, trú quán: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có nhu cầu học và thi sát hạch cấp giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Do biết Vi Văn H có dạy lái xe ô tô nên anh C đã đến nhà H đặt vấn đề nhờ C dạy lái. Mặc dù bản thân không phải là giáo viên của các cơ sở đào tạo lái xe nhưng Hội tự nhận bản thân mình là giáo viên dạy lái của hai trường “Việt M” và “Quân đội” và nói với anh C toàn bộ chi phí học lái xe hạng B2 gồm cả học phí và tiền chống trượt lý thuyết là 15.000.000 đồng. Thấy anh C tin tưởng, H đưa cho anh C một bộ hồ sơ đăng ký học để điền thông tin và nộp lại. Sau khi nhận hồ sơ, H không nộp xuống cơ sở đào tạo lái xe nào mà tự mình dạy anh C thành thạo các kỹ năng lái xe, còn lý thuyết H bảo anh C tự học, sau này sẽ lo chống trượt và thu trước học phí của anh C 4.800.000 đồng.
Đến khoảng tháng 7 năm 2023, để tạo lòng tin, H gọi anh C xuống nhà thi và nói dối đây là buổi thi thật lý thuyết, do đã chống trượt nên sẽ thi tại nhà rồi gửi xuống trường chấm. Vài ngày sau, H đưa anh C đến Trung tâm S có địa chỉ tại xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để đi xe trong sa hình bằng xe gắn chíp, khi C lái xe đạt trên 80 điểm thì Hội thông báo đã đỗ phần thi thực hành, còn phần thi lý thuyết đã có người khác thi hộ nên đã thi đạt, chờ ngày nhận Giấy phép lái xe.
Khoảng giữa tháng 8 năm 2023, khi đang sử dụng tài khoản Facebook có tên “Vi Hôi”, H vào tài khoản Facebook "Trung Tâm Đtlx Gia L" thấy đăng quảng cáo nhận làm các loại giấy phép lái xe. Hội nhắn tin với nội dung "Tôi cần làm bằng ô tô B2" thì được tài khoản trên B1 một bộ Giấy phép lái xe ô tô B2 là 3.500.000 đồng, chỉ cần gửi ảnh làm căn cước công dân và cho H số điện thoại 0983.912.xxx có tài khoản Zalo tên “Lê Thuận” để liên lạc. Nảy sinh ý định sử dụng giấy phép lái xe giả cung cấp cho anh Nguyễn Hồng C để chiếm đoạt khoản tiền chênh lệch, H sử dụng tài khoản Zalo đăng kí bằng số điện thoại 0357.072.xxx tên hiển thị là “Hội” nhắn tin giao dịch với tài khoản trên. Hội lấy thông tin cá nhân, căn cước công dân của anh C gửi cho tài khoản Zalo này để người này làm Giấy phép lái xe hạng B2, hồ sơ sát hạch giả cho anh C với giá 3.500.000 đồng/1 bộ hồ sơ. Vài ngày sau, có người giao hàng đến nhà giao cho Hội 01 gói hàng, bên trong có 01 bộ hồ sơ gồm: 01 chứng nhận sơ cấp; 01 Giấy khám sức khoẻ; 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe đường trường; 01 đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ghi ngày 15/7/2024; 01 bài sát hạch lý thuyết; 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Hồng C. Sau khi nhận được Giấy phép lái xe kèm hồ sơ giả Hội trả cho người giao hàng với hình thức thu tiền hộ số tiền 3.500.000 đồng.
Sau đó H đến nhà anh C thu 15.000.000 đồng của anh C như thỏa thuận ban đầu đồng thời đưa cho anh C toàn bộ hồ sơ, Giấy phép lái xe cho anh C mang về sử dụng. Qua xác minh xác định: Sở giao thông vân tải tỉnh Thái Nguyên không cấp giấy phép lái xe hạng B2 số GLPX 190239002886, ngày cấp 18/07/2023 cho người mang tên Nguyễn Hồng C. Tổng số tiền H chiếm đoạt của anh C là 19.800.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng tháng 9 năm 2023, chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1991; trú quán: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có nhu cầu học và thi bằng lái xe ô tô hạng B2. Qua giới thiệu của anh Nguyễn Hồng C, chị H1 đến gặp Vi Văn H đặt vấn đề nhờ Hội dạy và thi cấp giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Tương tự như với anh C, Hội đồng ý và lại nảy sinh ý định sử dụng giấy phép lái xe giả cấp cho chị Nguyễn Thị Thu H1 để chiếm đoạt khoản tiền chênh lệch.
Ban đầu, Hội dạy cho chị H1 03 buổi học lái xe, mỗi buổi 300.000 đồng tiền công, tổng số tiền Hội nhận được là 900.000 đồng. Sau đó, H gọi điện cho chị H1 giới thiệu, mời chào chị H1 đăng ký học và báo giá chi phí cả khóa học là 16.270.000 đồng. Trong đó, đã bao gồm 3.000.000 đồng tiền chống trượt lý thuyết và khi nộp hồ sơ phải nộp trước 3.500.000 đồng, khi thi thì nộp nốt số còn lại, chị H1 đồng ý. Sau đó Hội hướng dẫn chị H1 mua 01 bộ hồ sơ rồi điền đầy đủ thông tin cá nhân và nộp cho Hội 3.500.000 đồng, khi nhận được hồ sơ của chị H1, H không mang đi nộp vào cơ sở dạy lái xe mà cất tại nhà mình. Vài ngày sau, Hội hướng dẫn chị H1 học các kỹ năng lái xe, đi đường trường khoảng hơn mười buổi (không thu tiền công) tại khu vực xã T và đến bãi tập xe Quân khu A ở xã L, thành phố T để tập đi xa hình 02 buổi, còn phần lý thuyết, H nói chị H1 tự học. Khoảng cuối tháng 9 năm 2023, Hội thông báo gần ngày thi lý thuyết, yêu cầu chị H1 nộp nốt số tiền còn lại, chị H1 đã chuyển cho Hội số tiền 12.770.000 đồng. Để tạo lòng tin cho chị H1, H gọi chị H1 đến nhà để thi thử lý thuyết, quá trình chị H1 làm bài thi thì Hội có quay video và nói là quay để gửi xuống trường. Sau đó, Hội thông báo chị H1 đã thi đỗ phần thi lý thuyết, chị H1 thắc mắc chưa được thi thì Hội nói dối là đã đóng tiền “chống trượt” nên có người thi hộ và thu của H1 số tiền 400.000 đồng lệ phí thi. Khoảng vài ngày sau, H đưa chị H1 xuống trường D1 ở xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nói để học lái xe gắn chip và thi thực hành. Do không thấy có hội đồng sát hạch cấp Giấy phép lái xe nên chị H1 có thắc mắc thì được Hội giải thích là nhà trường đã kết nối với xe gắn chip nên cứ tự động thi, đạt trên 80 điểm là đỗ. Chị H1 đi xe chip trong sa hình kết quả đạt 85 điểm nên H bảo đã hoàn thành hết các phần học và thi, chờ ngày cấp giấy phép lái xe và thu của Hồi 549.000 đồng tiền thi cấp chứng chỉ. Sau đó H lấy thông tin cá nhân của chị H1 gửi cho một người sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Lê Thuận” để người này làm Giấy phép lái xe hạng B2 giả cho chị H1 với số tiền là 3.500.000 đồng. Sau khi nhận hồ sơ, Giấy phép lái xe, H đã đưa cho chị H1 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] cấp ngày 18/10/2023, nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh T và 01 bộ hồ sơ ghi thông tin cá nhân của chị H1 gồm: 01 chứng nhận sơ cấp; 01 Giấy khám sức khoẻ; 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe đường trường; 01 đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe ghi tên của chị H1; 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe; 01 bài sát hạch lý thuyết; 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe và bảo chị H1 trực tiếp viết và ký vào chỗ thông tin cá nhân của H1 trên các giấy tờ này, Sau đó chị H1 mang giấy phép lái xe về sử dụng. Tổng số tiền H đã nhận của chị H1 là: 18.119.000 đồng.
Tổng số tiền Hội chiếm đoạt được của anh Nguyễn Hồng C và chị Nguyễn Thị Thu H1 là: 37.919.000 đồng.
Ngày 27/6/2024 sau khi khám xét tại nhà của Vi Văn H tại xóm Đ, xã T, huyện V, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 sơ yếu lý lịch, 01 bản phô tô căn cước, 01 đơn xin học, cấp giấy phép lái xe, 01 Giấy chứng nhận sức khoẻ, 01 giấy khai sinh tất cả mang tên Nguyễn Thị Thu H1 xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số: 875 ngày 31/7/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: "04 (bốn) mẫu tài liệu Cơ quan CSĐT Công an huyện V trưng cầu giám định trong đó có 02 phôi “ GIẤY PHÉP LÁI XE” là giả. Hình dấu, chữ ký mang tên Trịnh Thị Kim Q, Bùi Hồng T1, Nguyễn Trường G, Quách Văn T2, Phan Mạnh C1 trên 02 mẫu giám định ghi “BIÊN BẢN TỔNG HỢP KẾT QUẢ SÁT HẠCH LÁI XE” tạo ra bằng phương pháp in phun màu”.
Lời khai nhận tội của bị cáo Vi Văn H như nêu trên phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME mặt sau màu xám, kiểu máy RMX2194, số IMEI1 863373051253638, số IMEI2 863373051253620 số seri 78086749; trong điện thoại lắp 02 thẻ sim, sim 01 số 0357072109, sim 02 số 0868513684 hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
- - 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/10/2023 mang tên Nguyễn Thị Thu H1.
- - 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/07/2023 mang tên Nguyễn Hồng C.
- - 02 hồ sơ sát hạch lái xe giả của Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Hồng C.
Những vật chứng này được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSVN ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã truy tố bị cáo Vi Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b,d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung từ 33tháng đến 42 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết vì bị hại không yêu cầu. Về án phí Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo, bị hại không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện V trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến cuối tháng 9/2023, Vi Văn H đưa ra thông tin gian dối Hội là giáo viên dạy lái xe ô tô và đã nhận hồ sơ học lái xe của anh Nguyễn Hồng C và chị Nguyễn Thị Thu H1. Hội đã thu của anh Nguyễn Hồng C tổng số tiền 19.800.000 đồng, thu của chị Nguyễn Thị Thu H1 tổng số tiền 18.119.000 đồng. Sau khi nhận hồ sơ và tiền, H không đi nộp vào các cơ sở dạy lái xe mà H tự dạy để anh C và chị H1 biết các thao tác lái xe cơ bản, nhưng không qua các phần thi theo quy định. Sau đó, H lên mạng xã hội mua giấy phép lái xe và hồ sơ giả về đưa cho anh C và chị H1 rồi chiếm đoạt số tiền của những người này. Tổng số tiền mà Vi Văn H chiếm đoạt của anh C và chị H1 là: 37.919.000 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm mười chín nghìn).
Hành vi nêu trên của bị cáo Vi Văn H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiến đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 điều 174 và điểm b, d khoản 2, Điều 341 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Điều 341. ... Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
“1. Người nào ..... sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
......
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
......
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng”.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, xâm phạm đến tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi ăn học hết lớp 3, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo Vi Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã tự nguyện trả cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là liệt sĩ hiện nay bị cáo là người đang thờ cúng; Tại phiên tòa bị hại có đơn xin giảm nhẹ khung hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
Đối với tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” bị cáo Vi Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là liệt sĩ hiện nay bị cáo là người đang thờ cúng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vi Văn H đã tự nguyện hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 18.119.000 đồng và anh Nguyễn Hồng C số tiền 19.800.000 đồng. Chị H1 và anh C không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME mặt sau màu xám, kiểu máy RMX2194, số IMEI1 863373051253638, số IMEI2 863373051253620 số seri 78086749; trong điện thoại lắp 02 thẻ sim đựng trong phong bì ký hiệu T1 thu giữ của bị cáo là công cụ thực hiện phạm tội.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai ).
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Liên quan trong vụ án này có đối tượng sử dụng tài khoản Facebook có tên “Trung tâm Đtlx Gia L” là người mà H liên lạc để mua giấy phép lái xe giả của anh Nguyễn Hồng C. Quá trình điều tra không xác định được chủ tài khoản này nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện V không có căn cứ để xử lý.
Đối với tài khoản Z có tên là “Lê Thuận” đăng ký bằng số điện thoại 0983.912.xxx. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định chủ số thuê bao là Ngụy Văn T3, sinh năm 1976; trú quán: xóm L, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Quá trình làm việc, anh T3 khai số điện thoại trên anh đã bị mất vào tháng 5 năm 2023, hiện tại anh không biết ai sử dụng, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Hồng C và chị Nguyễn Thị Thu H1 không biết những giấy phép lái xe mà H đã đưa cho mình là giả, nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015;
Xử phạt : Bị cáo Vi Văn H 09 ( chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ Điểm b, d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn H 24 ( hai mươi bốn) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 BLHS năm 2015 : Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vi Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 33 ( ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vì bị hại không yêu cầu.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME mặt sau màu xám, kiểu máy RMX2194, số IMEI1 863373051253638, số IMEI2 863373051253620 số seri 78086749; trong điện thoại lắp 02 thẻ sim đựng trong phong bì ký hiệu T1 thu giữ của bị cáo là công cụ thực hiện phạm tội.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai )
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Vi Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huyền |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Hội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
