Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-02-2025

V/v Tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Dũng Nhân;

Ông Hoàng Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Dương Thị B, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 15 tháng 10 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị B trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn P tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1999, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên gây gổ do bất đồng quan điểm sống không thể giải quyết được, hiện vợ chồng đã ly thân từ năm 2023. Do đó, nay bà nhận thấy không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 27-3-2000, hiện nay cháu thành niên (đủ 18 tuổi) nên không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau:

Ông và bà Dương Thị B tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1999, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó vợ chồng nhận ra có quá nhiều khác biệt trong cách sống, cách suy nghĩ và thường xuyên gây gỗ với nhau. Mâu thuẩn kéo dài không thể hàn gắn được, hiện nay vợ chồng đã ly thân. Do đó, ông nhận thấy giữa ông và bà B không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên đồng ý ly hôn với bà B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung họ tên, sinh ngày tháng năm như bà B trình bày, hiện nay cháu N đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Về việc quyết vụ án: Xét thấy, bà B và ông P sống chung như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó căn cứ các Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P.
  • - Về nuôi con chung: Ghi nhận con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 27-3-2000 đã thành niên nên bà B, ông P không yêu cầu giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà B, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà B, ông P.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy đinh của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ngày 21-10-2024 UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xác nhận không có thông tin đăng ký kết hôn của bà Dương Thị B tại UBND xã T. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P là vợ chồng.

[2.2] Về nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà B, ông P thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 27-3-2000 đã thành niên, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà B, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  1. Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P là vợ chồng.
  2. Về nuôi con chung: Ghi nhận con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 27-3-2000 đã thành niên nên bà B, ông P không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà B, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006775 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; bà B đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Dương Thị B và ông Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh (Phòng KT-NV);
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - CC THADS huyện Tân Châu;
  • - UBND xã Tân Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Quốc

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà và ông Nguyễn Văn P tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1999, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên gây gổ do bất đồng quan điểm sống không thể giải quyết được, hiện vợ chồng đã ly thân từ năm 2023. Do đó, nay bà nhận thấy không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 27-3-2000, hiện nay cháu thành niên (đủ 18 tuổi) nên không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger