Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
  • 2. Bà Tống Thị Hồng Vân.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Tiến T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03 tháng 04 năm 1995; tại: Tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú và nơi ở: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: [...]; cấp ngày: 21/7/2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị B - sinh năm 1972; (Mẹ đẻ bị cáo hiện ở S, Tuyên Quang). Anh chị em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị Thu N - sinh năm 1997 (là bị cáo trong vụ án). Con: Không. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 10/2014/HSST ngày 31/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tuyên phạt T 36 tháng tù, tội “Giao cấu với trẻ em”. Ngày 31/8/2015 T chấp hành xong hình phạt tù. T đã nộp án phí hình sự, án phí dân sự ngày 23/5/2014, bồi thường cho bị hại xong ngày 16/5/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh P.

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu N, Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03 tháng 02 năm 1995; tại: Tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: [...]; Cấp ngày: 24/02/2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn S - sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Tạ Thị V - sinh năm 1965; (Bố, mẹ bị cáo hiện ở xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ). Anh chị em ruột: Có 04 chị em, bị cáo là con thứ 3. Chồng: Nguyễn Tiến T - sinh năm 1995 (là bị cáo trong vụ án). Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/PC45 ngày 10/01/2017 của Phòng C1 - Công an tỉnh B, về hành vi “Bán dâm”, hình thức phạt Cảnh cáo.

Bản án số 04/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 18 tháng tù, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 27 tháng tù, tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hình phạt chung cho cả hai tội là 45 tháng tù. Ngày 09/12/2021 N chấp hành xong hình phạt tù, ngày 29/5/2019 nộp xong án phí và tiền truy thu.

Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh P.

  1. Họ và tên: Lê V1, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16 tháng 09 năm 2001; tại: Tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú và nơi ở: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Số CCCD: [...]; Cấp ngày 22/02/2023; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Văn N1 - sinh năm 1981; Mẹ đẻ: Quản Thị Y - sinh năm 1983; (Bố mẹ bị cáo hiện ở khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ). Anh chị em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 255 ngày 18/10/2017 của Công an huyện L, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức Cảnh cáo.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trần Thị H, sinh năm 2002. (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

  3. Bà Trần Thị B, sinh năm 1972. (Có mặt)
  4. Nơi thường trú: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

    Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

  5. Trần Quyết T2, sinh năm 1999. (Có đơn xin vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, Tổ công tác Công an huyện P phối hợp cùng chính quyền địa phương kiểm tra chỗ ở của Nguyễn Tiến T - sinh năm 1995, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ phát hiện Nguyễn Tiến T (chủ nhà), Nguyễn Thị Thu N - sinh năm 1997, thường trú đội 8, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vợ của T); Trần Quyết T2 - sinh năm 1999, thường trú khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Lê V1 - sinh năm 2001, thường trú khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế có đặc điểm là một chai nhựa có nắp nhựa màu xanh, tại phần nắp nhựa có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng và một ống thủy tinh uốn cong hở hai đầu, một đầu hình cầu có bám dính chất màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chất bột màu đỏ. Ngoài ra còn tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, lắp sim số 0348.818.876 của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, lắp sim số 0376.471.096 của N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, lắp sim số 0969.218.862 của T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0967.910.822 của V1; 01 xe mô tô nhãn hiệu biển số 19P1-366.30; 01 xe mô tô biển số 98L3-0927 (cả hai xe mô tô bên trong cốp xe đều không có đồ vật, tài sản gì). Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, CQĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, kết quả không thu giữ, tài liệu gì; tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định vị trí sử dụng ma túy của các đối tượng; kiểm tra nhanh việc sử dụng ma túy của các đối tượng, kết quả: T, T2, V1 và N đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra, xác minh đã xác định:

Chiều tối ngày 12/8/2024, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Thị Thu N thống nhất đi mua ma túy đá để sử dụng. Sau đó, T bảo Lê V1 chở N đi mua ma túy còn T ở nhà chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy. N sử dụng ứng dụng Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0376.471.xxx cài trong điện thoại di động Iphone 13 Promax liên hệ với người nam giới tên H1 sử dụng ứng dụng Zalo đăng ký số điện thoại 0986.454.xxx hỏi mua ma túy đá. Người này đồng ý và hẹn gặp ở khu vực Đ tưởng niệm thuộc xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để giao dịch. Sau đó, V1 điều khiển xe mô tô chở N đi đến điểm hẹn. N bảo V1 dừng xe cách khoảng 10 m, một mình N đi đến gặp người đàn ông bán ma túy. Người này bán cho N 01 gói ma túy đá có đặc điểm là túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng với giá 2.000.000 đồng và N xin thêm được một viên ma túy tổng hợp dạng viên nén hình tròn màu đỏ. Sau đó V1 chở N đi về. Về đến nhà, Nam cất giấu gói ma túy dưới chiếc chiếu trải ở giường trong phòng ngủ. Đến khoảng 19 giờ ngày 14/8/2024, Trần Quyết T2 đến nhà ở của Nguyễn Tiến T chơi. Lúc này ở nhà của T có 03 người gồm: T, N và V1. Khi T, T2, V1 đang ngồi chơi ở phòng khách thì T2 hỏi T “có gì không cho em xin khói” ý là có ma túy đá không cho sử dụng cùng. T gọi N (lúc này đang trong phòng ngủ) lấy ma túy đá cho mọi người cùng sử dụng. T đi vào phòng ngủ thì N đưa cho T gói ma túy đá có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu đỏ (là ma túy đá bị lẫn ma túy tổng hợp). T cầm túi ma túy và bộ D sử dụng ma túy đá tự chế từ trong phòng ngủ ra phòng khách rồi đưa cho V1. T gọi N ra phòng khách nhưng N không ra. T liền bảo mọi người vào phòng ngủ để sử dụng ma túy. V1 cầm theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và túi nilon ma túy vào phòng. Bốn người ngồi trên giường, V1 cho một phần ma túy đá trong túi nilon vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi dùng bật lửa đốt nóng phần ống thủy tinh chứa ma túy rồi đưa lần lượt cho T2, T, N sử dụng và V1 sử dụng cuối cùng. Sau khi sử dụng ma túy khoảng 30 phút thì T bảo T2 và V1 ra ngoài phòng khách. N bảo V1 cất ma túy và bộ D sử dụng ma túy đi. T và N ở trong phòng ngủ nghỉ ngơi, còn V1 với T2 đi ra ngoài phòng khách. Đến khoảng hơn 16 giờ ngày 15/8/2024, khi T2 và V1 ngồi ở phòng khách, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá vào phòng ngủ chuẩn bị tiếp tục sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh P giám định chất bột màu đỏ bị ướt bên trong túi nilon, chất màu đen bám dính trong ống thủy tinh thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn Tiến T và giám định mẫu nước tiểu thu giữ của các đối tượng.

Tại Kết luận giám định số 1127/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh P kết luận: “- Chất bột màu đỏ bị ướt đựng trong một túi nilon màu trắng được niêm phong trong Bì số 01 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,092 gam, loại Methamphetamine.

- Chất màu đen bám dính tại ống thủy tinh uốn cong hở hai đầu, một đầu hình cầu (tháo rời từ bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá) được niêm phong trong Bì số 02 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine (chất màu đen bán dính ở dạng vết nên không xác định được khối lượng trên cân phân tích 4 số)”.

Tại Kết luận giám định số 1142/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh P kết luận: “Trong các mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Tiến T trong Chai số 01; Nguyễn Thị Thu N trong Chai số 02; L trong Chai số 03; Trần Quyết T2 trong Chai số 04; gửi đến giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine".

Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu, xác minh người đăng ký thuê bao 0986.454.810 là Đỗ Thị L - sinh ngày 23/3/1997, địa chỉ: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xác định: Đỗ Thị L không sử dụng số điện thoại nêu trên và không thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị Thu N ngày 12/8/2024. Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành rà soát xác minh tại xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không xác định được người nam giới tên H1 (thường gọi là B1) có thông tin đặc điểm như Nguyễn Thị Thu N đã cung cấp.

Tại CQĐT, T, N, V1 thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Trong vụ án này có 04 người cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy hành vi của T, N, V1 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho 03 người sử dụng ma túy (Không bao gồm bản thân người phạm tội) theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSPN ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N và Lê V1 có lý lịch nêu trên về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 08 năm đến 08 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Xử phạt bị cáo Lê V1 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,065 gam chất bột màu đỏ là mẫu vật còn lại trong Bì niêm phong số 01 và 01 ống thủy tinh hở hai đầu, một đầu hình cầu trong bì niêm phong số 02 cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong bì niêm phong số 1127/KL-KTHS của Phòng KTHS Công an tỉnh P, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán - là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 một chai nhựa có nắp nhựa màu xanh, tại phần nắp nhựa có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ; sim số 0376.471.096.

Trả lại cho Nguyễn Tiến T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, đã qua sử dụng, mặt sau bị nứt vỡ, lắp sim số 0348.818.876.

Trả lại cho Trần Quyết T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng lắp sim số 0969.218.862.

Trả lại cho Lê V1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màn hình bị ố đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0967.910.822.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng.

Trả lại cho chị Trần Thị H (do ông Trần Văn Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận thay): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 19P1-366.30, không lắp gương, có số khung RLHJK0316MZ092705, số máy HC03E-5298980, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì.

Trả lại cho bà Trần Thị B: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98L3-0927, không lắp gương, số khung RLHHC09083Y370194, số máy HC09E-0370305, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì.

Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2025.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  2. Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội:
  3. Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng hơn 19 giờ ngày 14/8/2024, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 đã tổ chức để T, N, V1 và Trần Quyết T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine. Đến khoảng hơn 16 giờ ngày 15/8/2024, khi T tiếp tục lấy 0,092 gam ma túy Methamphetamine còn lại để chuẩn bị tiếp tục sử dụng thì bị công an huyện P phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện sử dụng chất ma túy và số ma túy còn lại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

  4. Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.
  5. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo T, N, V1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy:
  7. Bị cáo Nguyễn Tiến T là người có nhân thân xấu, tại Bản án số 10/2014/HSST ngày 31/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tuyên phạt 36 tháng tù, tội “Giao cấu với trẻ em”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ án. Trong vụ án bị cáo với vai trò là người là người khởi xướng, cung cấp địa điểm, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, chỉ đạo điều hành Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 chuẩn bị các điều kiện cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo T một hình phạt tù cao hơn so với các bị cáo khác, tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

    Bị cáo Nguyễn Thị Thu N là người có nhân thân xấu, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/PC45 ngày 10/01/2017 của Phòng C1 - Công an tỉnh B, về hành vi “Bán dâm”, hình thức phạt Cảnh cáo. Tại Bản án số 04/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 18 tháng tù, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 27 tháng tù, tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hình phạt chung cho cả hai tội là 45 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ án. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội. Trong vụ án bị cáo là người trực tiếp đi mua ma túy vì vậy lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo N một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

    Bị cáo Lê V1 là người có nhân thân xấu, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 255 ngày 18/10/2017 của Công an huyện L, tỉnh Phú Thọ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức Cảnh cáo. Trong vụ án bị cáo là người trực tiếp chở N đi mua ma túy và là người cho ma túy vào bộ D và đưa cho 03 người Thắng, N, T sử dụng. Vì vậy cần xử phạt bị cáo V1 một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

  8. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P xét thấy bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 không có việc làm, không có tài sản riêng và đã áp dụng hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
  9. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với: 0,065 gam chất bột màu đỏ là mẫu vật còn lại trong Bì niêm phong số 01 và 01 ống thủy tinh hở hai đầu, một đầu hình cầu trong bì niêm phong số 02 cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong bì niêm phong số 1127/KL-KTHS của Phòng KTHS Công an tỉnh P, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán - là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với: 01 một chai nhựa có nắp nhựa màu xanh, tại phần nắp nhựa có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ. Đây là công cụ các bị cáo đã dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, đã qua sử dụng, mặt sau bị nứt vỡ, lắp sim số 0348.818.876 của Nguyễn Tiến T sử dụng liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hành vi phạm tội. Vì vậy cần trả lại cho T là phù hợp.
    • Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng lắp sim số 0969.218.862 của Trần Quyết T2 dùng liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hành vi phạm tội vì vậy cần trả lại cho T2 là phù hợp.
    • Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màn hình bị ố đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0967.910.822 của Lê V1 sử dụng liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến hành vi phạm tội vì vậy cần trả lại cho V1 là phù hợp.
    • Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng, lắp sim số 0376.471.096 của Nguyễn Thị Thu N. Đây là điện thoại và sim sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax và tịch thu tiêu hủy sim số 0376.471.096.
    • Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 19P1-366.30, không lắp gương, có số khung RLHJK0316MZ092705, số máy HC03E-5298980, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì. Đây là xe mô tô T2 đi đến nơi ở của T ngày 14/8/2024. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này thuộc sở hữu của chị Trần Thị H, sinh năm 2002, thường trú: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (em gái T2). H không biết việc T2 mượn xe mô tô để đi sử dụng chất ma túy. Tại đơn xin lại tài sản ngày 03/12/2024 chị Trần Thị H ủy quyền cho ông Trần Văn Q nhận lại chiếc xe mô tô trên. Vì vậy cần trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 19P1-366.30 cho chị H (do ông Q nhận thay) là phù hợp.
    • Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98L3-0927, không lắp gương, số khung RLHHC09083Y370194, số máy HC09E-0370305, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì. Xe thuộc sở hữu của bà Trần Thị B, sinh năm 1972, thường trú khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (mẹ của T). Bà B cho T mượn xe này để sử dụng. Ngày 12/08/2024, bà B không biết việc T bảo V1 sử dụng chiếc xe này chở N đi mua ma túy nên cần trả lại cho bà Trần Thị B là phù hợp.
  10. Về các vấn đề khác:
  11. Đối với Trần Quyết T2: Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.

    Đối với số ma túy cơ quan công an đã thu giữ tại chỗ ở của Nguyễn Tiến T là của Nguyễn Thị Thu N mục đích là để sử dụng, số ma túy này dưới lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Thu N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

    Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Thị Thu N ngày 12/08/2024, cơ quan điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu nên không có căn cứ để triệu tập xác minh, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Đối với bà Trần Thị B là chủ căn nhà Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N và Lê V1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bà B không biết sự việc này nên CQĐT không đề cập xử lý.

  12. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  13. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  14. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề nghị về các căn cứ pháp luật, đề nghị về hình phạt, xử lý vật chứng và án phí, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Xử phạt bị cáo Lê V1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 0,065 gam chất bột màu đỏ là mẫu vật còn lại trong Bì niêm phong số 01 và 01 ống thủy tinh hở hai đầu, một đầu hình cầu trong bì niêm phong số 02 cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong bì niêm phong số 1127/KL-KTHS của Phòng KTHS Công an tỉnh P, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán - là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 một chai nhựa có nắp nhựa màu xanh, tại phần nắp nhựa có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ; sim số 0376.471.096.
    • Trả lại cho Nguyễn Tiến T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, đã qua sử dụng, mặt sau bị nứt vỡ, lắp sim số 0348.818.876.
    • Trả lại cho Trần Quyết T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng lắp sim số 0969.218.862.
    • Trả lại cho Lê V1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màn hình bị ố đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0967.910.822.
    • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho chị Trần Thị H (do ông Trần Văn Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận thay): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 19P1-366.30, không lắp gương, có số khung RLHJK0316MZ092705, số máy HC03E-5298980, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì.
    • Trả lại cho bà Trần Thị B: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98L3-0927, không lắp gương, số khung RLHHC09083Y370194, số máy HC09E-0370305, bên trong cốp không có đồ vật, tài sản gì.
    • Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2025.
  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Bị cáo Nguyễn Tiến T, Nguyễn Thị Thu N, Lê V1 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - Công an huyện Phù Ninh;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Phù Ninh;
  • - Cơ quan THADS huyện Phù Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Trung Giáp;
  • - UBND xã Thụy Vân;
  • - UBND xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Việt Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Tiến T và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger