Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 05/2025/DS-ST

Ngày 25/02/2025

V/v “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trà Minh Châu

Ông Thạch Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như-Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 176/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng S2); Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là nguyên đơn.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh M-Giám đốc Ngân hàng S2-Chi nhánh L, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: Ấp B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Quách Kiều N, sinh năm 1972 và ông Phan Văn S, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh M trình bày:

Ngày 04/8/2020, Ngân hàng S2-Chi nhánh L với bà N và ông S thỏa thuận ký kết Hợp đồng cho vay số [...] cùng Giấy nhận nợ số LD2225900372 ngày 16/9/2022, sau khi giao kết hợp đồng thì ngân hàng đã giải ngân cho ông S và bà N số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn vay theo thời hạn của từng giấy nhận nợ, mục đích vay là bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp, phương thức trả nợ theo từng lần nhận tiền vay theo thời hạn vay ghi trên từng giấy nhận nợ tương ứng, lãi suất cho vay được xác định cho từng lần vay theo mức lãi suất của của Ngân hàng S2 vào thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng giấy nhận nợ.

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, thì ông S và bà N với Ngân hàng S2-Chi nhánh L đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 202008011483031 ngày 05/8/2020 được chứng thực tại UBND xã T, huyện L và có đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện L, tỉnh Sóc Trăng, tài sản thế chấp: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1623, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG767062 do UBND huyện L cấp ngày 22/5/2012 cho ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, thì ông S và bà N đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên.

Nay yêu cầu giải quyết buộc ông S và bà N phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên, tạm tính đến ngày 25/02/2025 với tổng số tiền nợ gốc và lãi là 184.786.196 đồng, bao gồm tiền lãi trong hạn là 11.493.699 đồng, tiền lãi quá hạn là 42.771.551 đồng và tiền lãi phạt vi phạm chậm trả lãi là 1.520.947 đồng cùng tiền lãi phát sinh (mức lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng) tính từ ngày 26/02/2025 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ. Trường hợp ông S và bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp tại hợp đồng thế chấp tài sản mà ông S và bà N đã ký với Ngân hàng để thu hồi nợ, cũng như tiếp tục thanh toán nợ nếu như tài sản thế chấp không đủ thanh toán.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là Quách Kiều N trình bày:

Bà N thừa nhận việc vay tiền và thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay với Ngân hàng S2-Chi nhánh S3 là do bà N và ông S cùng thực hiện, nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt gia đình. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị thanh toán nợ chia theo kỳ, thanh toán nhiều lần cho đến khi thành toán xong các khoản nợ. Trường hợp không thanh toán được thì bà N cũng đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đối với việc thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp của Tòa án thì bà N thống nhất, không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Đối với bị đơn là ông Phan Văn S đã được triệu tập hợp lệ văn bản tố tụng tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Phan Văn S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông S.

[2]. Ngân hàng S2 khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N có nơi cư trú tại xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng (cho vay nhỏ lẻ) nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng và Tòa án nhân dân huyện Long Phú đã thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3]. Đối với bị đơn là ông Phan Văn S sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình hoạt động tố tụng của Tòa án, không có ý kiến gì hay gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay có đơn yêu cầu phản tố. Do đó, căn cứ Khoản 2, Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Tại Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 cùng Giấy nhận nợ số LD2225900372 ngày 16/9/2022, phía dưới có chữ ký và chữ viết của đại diện Ngân hàng S2-Chi nhánh L (bên cho vay) với ông S và bà N (bên vay) nên có đủ căn cứ xác định giữa Ngân hàng với ông S và bà N thực tế có giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, về hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, các đương sự đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi giao kết hợp đồng nên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

[5]. Theo nội dung Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 cùng Giấy nhận nợ số LD2225900372 ngày 16/9/2022 thể hiện Ngân hàng S2-Chi nhánh L đã cấp hạn mức tín dụng (giải ngân) cho ông S và bà N số tiền là 150.000.000 đồng, mục đích vay là bổ sung vốn sản xuất nông nghiệp, thời hạn vay là 12 tháng, thời hạn trả nợ gốc là 16/9/2023, trả lãi 06 tháng/lần vào ngày 16 háng tháng, hình thức giải ngân chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông S tại Ngân hàng S2-Chi nhánh L số [...]. Quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên thì ông S và bà N đã thực hiện không đúng theo thỏa thuận hợp đồng và giấy nhận nợ đã ký với ngân hàng nên đã vi phạm Điều 6 của Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022.

Do đó, Ngân hàng S2 có quyền yêu cầu ông S và bà N thanh toán nợ gốc là 129.000.000 đồng theo thỏa thuận tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 của Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 và phù hợp với quy định quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[6]. Về tiền lãi: Tại Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 cùng Giấy nhận nợ số LD2225900372 ngày 16/9/2022 thì Ngân hàng S2 với ông S và bà N đã thỏa thuận mức lãi suất 03 tháng đầu tiên là 12%/năm, lãi suất từ tháng thứ tư tính theo các giấy nhận nợ đã ký, lãi suất của toàn bộ dư nợ được điều chỉnh theo mức lãi suất cơ sở tương ứng theo từng thời kỳ của ngân hàng và các khoản lãi phạt khi vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, việc thỏa thuận các khoản lãi là phù hợp với Điều 418 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 14 và Điều 25 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng thì ông S và bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi nên Ngân hàng yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi tính đến ngày 25/02/2025 bao gồm các khoản tiền nợ lãi như sau: lãi trong hạn là 11.493.699 đồng, lãi quá hạn là 42.771.551 đồng và lãi phạt vi phạm chậm trả lãi là 1.520.947 đồng cùng tiền lãi tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ là đúng theo thỏa thuận tại Điều 5, Điều 7 của Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 và phù hợp với quy tại Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7]. Về xử lý tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán nợ tại Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 thì ông S và bà N đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 202008011483031 ngày 05/8/2020 được chứng thực tại UBND xã T, huyện L và có đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện L, tỉnh Sóc Trăng, tài sản thế chấp: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1623, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG767062 do UBND huyện L cấp ngày 22/5/2012 cho ông S và bà N.

Xét thấy, việc có giao kết hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng S2 với ông S và bà N là trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, về hình thức và nội dung của hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định pháp luật, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền nên có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 117, Khoản 2 Điều 119, Khoản 1 Điều 317, Điều 319 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bà N cũng đồng ý giao tào sản bảo đảm cho ngân hàng để phát mãi thu hồi nợ trong trường hợp không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ vay tại hợp đồng đã được ký giữa Ngân hàng với ông S và bà N nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà N.

Do đó, việc Ngân hàng S2 yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên trong trường hợp ông S và bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ vay tại hợp đồng đã được ký giữa Ngân hàng với ông S và bà N là hoàn toàn phù hợp với nội dung tại Điều 3, Điều 4 của Hợp đồng thế chấp tài sản số 202008011483031 ngày 05/8/2020 và Điều 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2 được chấp nhận nên ông S và bà N phải chịu chi phí tố tụng đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 1.050.000 đồng và có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng S2.

[9]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định pháp luật.

[10]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 299; Điều 317; Điều 319; Điều 320; Điều 322; Điều 323; Điều 500; Điều 501; Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đối với bị đơn là ông Phan Văn S và bà Quách N về hợp đồng tín dụng.
  2. Buộc ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N thanh toán tiền nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tại Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 với tổng số tiền nợ gốc và lãi là 184.786.196 đồng, bao gồm lãi trong hạn là 11.493.699 đồng, lãi quá hạn là 42.771.551 đồng và lãi phạt là 1.520.947 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 26/02/2025, ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.

  1. Trong trường hợp ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ vay (bao gồm tiền vốn gốc và lãi) tại Hợp đồng cho vay số [...] ngày 04/8/2022 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1623, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG767062 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 22/5/2012 cho ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 202008011483031 ngày 05/8/2020 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất (nếu có).

Buộc ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp nêu trên (trong đó bao gồm tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp, giá trị tài sản thế chấp nêu trên của ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N không đủ để thanh toán đủ các khoản nợ thì ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N vẫn phải tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đến khi thanh toán xong tất các khoản nợ vay.

  1. Về chi phí tố tụng:

Ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N phải chịu là 1.050.000 đồng và có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phan Văn S và bà Quách Kiều N cùng phải chịu là 9.239.310 đồng.

Hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.315.600 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 006757 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đối với bị đơn là ông Phan Văn S và bà Quách N về hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger