|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-02-2025 Về việc yêu cầu không công nhận là vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Hải Đăng;
- 2. Ông Lục Viết Sang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Duy Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 24/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2024/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Yêu cầu không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phạm Công T, sinh năm 1967 - (có mặt).
- Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 - (vắng mặt, xin vắng mặt);
- Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và bản ghi ý kiến, ông Phạm Công T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị M tìm hiểu đến với nhau và tổ chức đám cưới vào năm 1993, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng không nhớ ai làm thủ tục đăng ký kết hôn cho và hiện tại ông không còn giữ giấy đăng ký kết hôn nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Ông và bà M chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, bà M không quan tâm chăm sóc ông, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa ông và bà M. Vợ chồng ông có 01 con chung là anh Phạm Công V, sinh năm 1993, anh V đã trưởng thành, lập gia đình riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng ông tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản lấy lời khai và quá trình làm việc bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà và ông T kết hôn và đăng ký kết hôn năm 1992 tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng không nhớ ai làm thủ tục đăng ký kết hôn, sau đó bà và ông T chung sống với nhau ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bà thấy rằng quá trình chung sống của ông bà hòa thuận, bình thường và có một số những mâu thuẫn đời thường, ông T hay uống rượu, không chịu làm ăn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thời gian gần đây ông T tuổi cao và mắc nhiều bệnh nên tâm lý thay đổi, lời ra tiếng vào khiến bà và ông cãi cọ nhưng bà cảm thấy bình thường và cũng thông cảm cho ông. Hiện bà và ông T vẫn chung sống và bà vẫn chăm sóc ông. Nay ông T có đơn yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng thì bà không đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Vợ chồng ông có 01 con chung là anh Phạm Công V, sinh năm 1993, anh V đã trưởng thành, lập gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng bà tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà M B trông cháu nên không thể đến Tòa án tham gia tố tụng được, bà M xác N đã nhận đầy đủ các thông báo của Tòa án và đề nghị xin được vắng mặt trong toàn bộ các buổi làm việc cũng như các phiên xét xử.
* Tại biên bản xác minh 23/12/2024 và công văn số 08/UBND-TP ngày 20/6/2024 về trả lời cấp bản sao trích lục Đăng ký kết hôn của công dân - Ủy ban nhân dân xã Đ cung cấp như sau: Ông Phạm Công T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 cùng có hộ khẩu thường trú và sinh sống ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Qua kiểm tra thông tin trong sổ sách và dữ liệu đăng ký kết hôn thì UBND xã hiện không còn lưu trữ thông tin về việc ông T, bà M có đăng ký kết hôn tại UBND xã hay không. Địa phương xác định ông T, bà M thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T có nhiều lần đến UBND xã để xin cấp giấy đăng ký kết hôn để làm thủ tục ly hôn với bà M và trình bày về việc vợ chồng ông bà thường xuyên cãi nhau và bất đồng quan điểm.
+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị hội đồng xét xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Công T: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Công T và bà Nguyễn Thị M.
- - Về tiền án phí: Ông Phạm Công T phải chịu 300.000 đồng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông T yêu cầu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà M; Bà M có địa chỉ cư trú tại huyện Y nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố Tụng dân sự.
- - Về việc vắng mặt của đương sự: Bà M đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà M nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà M.
[2] Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông T, bà M chung sống với nhau từ năm 1993. Ông T khai có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 1993 còn bà M khai có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 1992; ông T và bà M đều không nhớ ai làm thủ tục đăng ký kết hôn cho ông bà; Qua xác minh tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thể hiện không còn lưu trữ được tài liệu về đăng ký kết hôn giữa ông T, bà M nên không thể xác định được ông T, bà M có đăng ký kết hôn tại UBND xã hay không, mặt khác ông T, bà M cũng không cung cấp được tài liệu thể hiện việc mình có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định ông T, bà M chung sống nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy, đây là quan hệ hôn nhân không được pháp luật công nhận, vi phạm quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Do đó, yêu cầu của ông T về việc không công nhận quan hệ vợ chồng với bà M là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Về việc nuôi con: Con chung đã trưởng thành và lập gia đình riêng, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Công T: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Công T và bà Nguyễn Thị M.
- Về việc nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tiền án phí: Ông Phạm Công T phải chịu 300.000 đồng án phí không công nhận vợ chồng, nhưng trừ vào số tiền 300.000 đồng ông T đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005133 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế thu. Xác nhận ông Phạm Công T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Thảo |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Công T và bà Nguyễn Thị M
