|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/01/2025
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Võ
2. Ông Nguyễn Trí Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09/10/2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXX-ST ngày 26/12/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu D, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Trần Đức C, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu D, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ
Chị T và anh C đều xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày:
Chị và anh Trần Đức C kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã M (nay là xã Y), huyện Đ. Sau khi kết hôn chị về ở cùng gia đình nhà anh C. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian, đến năm 2015 bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn lớn, chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xã T ở khoảng 06 tháng, sau đó vợ chồng quay về chung sống cùng nhau. Tuy nhiên, từ khi vợ chồng về ở chung với nhà anh C thì chị và anh C liên tục xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không có trách nhiệm với gia đình. Tuy ở chung nhà nhưng vợ chồng không quan tâm đến nhau. Đến nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
- Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 01/8/2009 và Trần Thị Kiều C1, sinh ngày 28/01/2013, hai cháu đang ở với chị. Sau khi ly hôn chị xin nuôi cả hai con và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Trần Đức C xác nhận việc kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống, việc chị T xin ly hôn anh nhất trí.
- Về con chung: Anh C xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 01/8/2009 và Trần Thị Kiều C1, sinh ngày 28/01/2013. Sau khi ly hôn anh nhất trí để chị T nuôi cả hai con và anh không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Trần Đức C.
- Về con chung: Chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 01/8/2009 và Trần Thị Kiều C1, sinh ngày 28/01/2013. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T, do chị T không yêu cầu.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T và anh C không đề nghị giải quyết nên không phải giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T và anh Trần Đức C mỗi người nộp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng). Chị T đề nghị được nộp thay anh C, nên giao cho chị T nộp toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn là chị Lê Thị T cư trú tại xã Y (trước đây là xã M), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Trần Đức C cư trú cùng địa chỉ nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị T và anh C đều xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Trần Đức C đăng ký kết hôn năm năm 2009 tại UBND xã M (nay là xã Y), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống với nhau. Đến nay chị T và anh C đều xác nhận về mâu thuẫn vợ chồng và hai người đã sống ly thân với nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã căng thẳng, trầm trọng kéo dài, mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững không đạt được. Do vậy việc chị T và anh C đều nhất trí ly hôn là tự nguyện, cần chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 01/8/2009 và Trần Thị Kiều C1, sinh ngày 28/01/2013. Sau khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi cả hai con, nguyện vọng của cháu L và cháu C1 cũng xin được ở với chị T. Do vậy sau khi ly hôn sẽ giao cháu L và cháu C1 cho chị T trực tiếp tuôi dưỡng. Việc chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, cần chấp nhận.
[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T và anh C đều không đề nghị nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T và anh C mỗi người nộp 75.000₫ (Bảy lăm nghìn đồng). Tuy nhiên chị T đề nghị được nộp toàn bộ, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Trần Đức C.
- Về con chung: Chị Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 01/8/2009 và Trần Thị Kiều C1, sinh ngày 28/01/2013, kể từ tháng 01/2025 cho đến khi thành niên. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền chị T phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0002328, ngày 04/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Trả lại cho chị Lê Thị T 150.000₫ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Chị Lê Thị T và anh Trần Đức C có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Vũ Thường |
4
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
