|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS-ST.
Ngày 21 - 02 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Khánh Hội.
2. Ông Nguyễn Ngọc Như.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Hoài L, sinh năm: 1999; Nơi sinh: tại huyện M, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện M, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H và bà Lê Thị Cẩm N; Vợ tên Nguyễn Thị Cát T; Con có 01 người sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Mai Văn C, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thị É, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 30/9/2024) có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Cát T1, sinh năm: 2001; Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện M, tỉnh Long An (có mặt).
- Người làm chứng: Ông Huỳnh Thanh D, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSMH ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An để xét xử bị cáo Lê Hoài L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoài L diễn biến như sau:
Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 25/6/2024 Lê Hoài L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62T1-149.16 lưu thông trên tuyến Quốc lộ F, hướng từ huyện T đi thị xã K, tỉnh Long An. Khi đến đoạn km 54+610m thuộc địa phận ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An, L nhìn thấy có xe ô tô đang lưu thông đến theo hướng ngược lại nên điều khiển xe tránh vào lề phải theo hướng đi của mình nhưng không chú ý quan sát nên đã điều khiển xe đụng từ phía sau ông Mai Văn C, sinh năm: 1967, nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đang đi bộ cùng chiều phía trước xe do L điều khiển. Hậu quả: L bị xây xát nhẹ, xe mô tô hư hỏng nhẹ, ông Mai Văn C bị chấn thương vùng đầu được người thân của L hỗ trợ đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu, sau đó được chuyển tuyến đến bệnh viện C1- thành phố Hồ Chí Minh phẫu thuật cấp cứu và chuyển đến bệnh viện P – điều trị bệnh nghề nghiệp – thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 30/7/2024 xuất viện điều trị tại nhà.
Tại biên bản dựng lại hiện trường vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 26/6/2024 trên cơ sở lời trình bày của Lê Hoài L và người làm chứng Huỳnh Thanh D, sinh năm: 1977, nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An (do hiện trường bị xáo trộn không còn dấu vết) thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường trải bê tông nhựa, rộng 7,78 mét, tổ chức giao thông hai chiều, giữa mặt đường có vạch kẽ nét đứt chia mặt đường thành hai phần. Phần đường bên phải hướng từ huyện T đi thị xã K rộng 4,27 mét. Chọn mép đường bên phải của tuyến Quốc lộ F hướng từ huyện T đi thị xã K làm mép đường chuẩn và chọn trụ Km số 54 làm mốc chuẩn để đo các dấu vết tại hiện trường. Hiện trường vụ tai nạn giao thông nằm trên phần đường bên phải. Nạn nhân Mai Văn C nằm ngửa tại vị trí trùng với mép đường chuẩn, đầu hướng về huyện T, chân hướng về thị xã K; xe mô tô biển kiểm soát 62T1-149.16 nằm ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng vào tim đường, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn. Lê Hoài L mô tả vị trí xe mô tô có tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,40 mét và cách đầu nạn nhân 10,70 mét, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 2,95 mét và cách tim đường 1,65 mét; người làm chứng Huỳnh Thanh D trình bày vị trí xe mô tô có tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2,51 mét và cách đầu nạn nhân 12,80 mét, đầu xe nằm trên vạch kẽ đường, tâm trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn 3,80 mét.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát: 62T1-149.16 thể hiện: Gương chiếu hậu bên trái có xuất hiện vết xước ở mặt nhựa phía trước kích thước 12x04cm; chóa đèn chiếu sáng tại vị trí góc bên trái có vết mài mòn kích thước 04x5,5cm hướng ngang mặt đường; đầu tay phanh bên trái bị mài mòn có kích thước 01x01cm; yếm xe bên trái phía trên có 02 vết mài mòn, vết thứ nhất có kích thước 08x0,2cm, vết thứ hai nằm bên dưới vết thứ nhất và có kích thước 06x04cm; mặt nhựa của quạt gió tại vị trí máy xe có vết mài mòn, kích thước 08x20cm; yếm xe phía phải bên dưới bị vỡ kích thước dài 04cm; yếm dưới sàn xe bên phải hở, không còn được cố định chắc chắn vào thân xe.
Tại Bản kết luận giám định số: 309/KLTTCT-TTPY ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L đã kết luận tổn thương cơ thể của ông Mai Văn C như sau: Sẹo mổ vùng trán đỉnh có kích thước lớn; ổ khuyết sọ trán trái có kích thước 07cm x 07cm đáy mềm; yếu liệt 4 chi/Sau phẫu thuật chấn thương sọ não ở mức độ nhẹ; mở sọ trán trái. Nứt sọ đỉnh chẩm phải lan vào xương đá phải kích thước 80mm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Văn C tại thời điểm giám định là 72%.
Tang vật tạm giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu trắng đen, số khung 583LY001136, số máy JF86E2279885 (đã qua sử dụng) biển kiểm soát 62T1-149.16 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 007943 mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1978, địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Hoài L.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Hoài L tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa qua phần thẩm tra các chứng cứ Kiểm sát viên phát biểu quan điểm kết luận về vụ án và đề nghị xử lý vụ án như sau:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoài L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoài L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm. Giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị Cát T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu trắng đen, số khung 583LY001136, số máy JF86E2279885 (đã qua sử dụng) biển kiểm soát 62T1-149.16 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 007943 mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1978, địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An; Trả lại cho bị cáo Lê Hoài L 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Hoài L.
Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự hành vi phạm tội của bị cáo L có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Nhưng xét thấy bị cáo L không có hành nghề hoặc làm công việc gì quan trọng nên đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Hoài L với người đại diện theo ủy quyền đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 230.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hoài L chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của người bị hại: Bà Mai Thị É trình bày sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên xin giảm nhẹ cho bị cáo, các khoản chi phí lo cho ông C bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 230.000.000 đồng xong không yêu cầu gì thêm.
Về lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cát T1 trình bày: Vào năm 2021 bà được cha là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1978, địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An cho bà chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu trắng đen, số khung 583LY001136, số máy JF86E2279885 biển kiểm soát 62T1-149.16 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 007943 mang tên Nguyễn Văn Đ, chiếc xe này bà sử từ trước đến ngày 25/6/2024 chồng bà là Lê Hoài L lấy đi công việc gây tai nạn cho ông C. Vì vậy, bà yêu cầu xem xét cho bà nhận lại xe để sử dụng.
Về lời trình bày của người làm chứng: Sự việc xảy ra ông không chứng kiến trực tiếp nhưng ông nghe tiếng động ngoài lộ ông chạy ra thì thấy ông L nằm ông đỡ dậy, sau đó ông thấy ông C cách chổ ông L khoản 10 mét ông chạy lại đỡ dậy và được gia đình ông L đưa đi cấp cứu, khi chuyển lên Chợ Rẩy ông có đi cùng. Sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên xin giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được tiến hành theo trình tự thủ tục, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoài L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo L tại phiên tòa, được đối chiếu với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Bị cáo Lê Hoài L khi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý không tuân thủ nguyên tắc khi tham gia giao thông đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62T1-149.16 lưu thông trên tuyến Quốc lộ F, hướng từ huyện T đi thị xã K, tỉnh Long An. Khi đến đoạn km54+610m thuộc địa phận ấp E, xã T, huyện M, tỉnh Long An, do không chú ý quan sát đã đụng từ phía sau ông Mai Văn C đang đi bộ cùng chiều phía trước xe do bị cáo L điều khiển làm ông C bị thương với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 72%. Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chú ý quan sát gây ra tai nạn giao thông cho người và phương tiện lưu thông cùng chiều phía trước của bị cáo L đã vi phạm điều cấm được quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2009/NĐ-CP ngày 30/12/2009 của Chính Phủ. Khoản 23 Điều 8 quy định “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2009/NĐ-CP quy định “Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; ...”. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo L là không chú ý quan sát đã đụng từ phía sau ông Mai Văn C đang đi bộ cùng chiều phía trước xe do bị cáo L điều khiển. Hậu quả làm ông Mai Văn C bị thương với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 72%.
[4] Vì vậy, đã có đầy đủ căn cứ pháp lý để kết luận rằng hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoài L đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo L ra Tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ông Mai Văn C, mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông. Hành vi phạm tội của bị cáo L cần phải xử lý bằng Luật hình sự để có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung và phục vụ tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương.
[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mà có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bồi thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, gia đình có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, bị cáo Lê Hoài L có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian dài thử thách, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[7] Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision; màu trắng đen, số khung 583LY001136, số máy JF86E2279885, biển kiểm soát 62T1-149.16 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 007943 mang tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1978, địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An. Chiếc xe này ông Đ đã cho con là bà Nguyễn Thị Cát T1 được trọn quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt từ năm 2020. Ngày 25/6/2024 bị cáo Lê Hoài L là chồng bà T1 lấy đi công việc gây tai nạn cho ông C. Vì vậy, cầm xem xét trả lại cho bà T1 là phù hợp.
Đối với giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Lê Hoài L là giấy tờ của cá nhân bị cáo và bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo L là phù hợp.
[8] Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự hành vi phạm tội của bị cáo L có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Nhưng xét thấy bị cáo L không có hành nghề hoặc làm công việc gì quan trọng nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Hoài L với người đại diện theo ủy quyền của bị hại là bà Mai Thị É đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 230.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[10] Về án phí: Theo quy định buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
[11] Từ những nhận xét nêu trên xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ đúng pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Lê Hoài L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025).
Giao bị cáo Lê Hoài L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Hoài L có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê Hoài L.
Trong trường hợp bị cáo Lê Hoài L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và 93 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Lê Hoài L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện theo ủy quyền của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Văn Út |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoài Linh "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
