|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Huy và bà Nguyễn Thị Hồng Minh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 109 /2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim T, sinh năm 2003; địa chỉ: Xóm D, thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình – có mặt;
Bị đơn: Anh Đặng Ngọc T1, sinh năm 2000; địa chỉ: Xóm D, thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình – có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim T trong bản tự khai ngày 24/12/2024, ngày 17/01/2025 và tại phiên tòa trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Đặng Ngọc T1 yêu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 07/12/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình chồng tại xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Hạnh phúc được khoảng 10 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn là do anh T1 thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đi sớm về khuya, không quan tâm vun vén hạnh phúc gia đình. Từ đó, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mặc dù đã nhiều lần chị T cố gắng để hàn gắn nhưng không mang lại kết quả gì mà ngược lại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không thể kéo dài nên chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng ly thân đã được khoảng 6 tháng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Ngọc T1.
- Về con chung: Chị và anh Đặng Ngọc T1 có 01 con chung tên là Đặng Ngọc Yến N, sinh ngày 22/6/2023. Kể từ khi ly thân, chị T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Bị đơn anh Đặng Ngọc T1 trong bản tự khai ngày 24/12/2024, ngày 17/01/2025 và tại phiên tòa trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị T yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 07/12/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà ba mẹ tại xóm D Đ, xã P. Quá trình chung sống vợ chồng thường nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân là do anh đi sớm về khuya, không chăm lo đến hạnh phúc gia đình. Do tuổi còn trẻ, nhận thức về hôn nhân chưa đúng đắn nên anh chưa nghĩ đến cảm xúc của người vợ. Nhận thấy, vẫn còn tình cảm với chị T nên anh đề nghị Toà án hàn gắn cho vợ chồng được đoàn tụ, để cùng nhau chăm lo nuôi dạy con cái trưởng thành. Tuy nhiên nếu chị T nhất quyết đòi ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Anh thừa nhận vợ chồng anh chị có 01 con chung tên là Đặng Ngọc Yến N, sinh ngày 22/6/2023. Hiện cháu đang sống cùng với mẹ. Nếu trong trường hợp phải ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim T xin ly hôn anh Đặng Ngọc T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Đỗ Thị Kim T và anh Đặng Ngọc T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 07/12/2022 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, sau khi kết hôn, vợ chồng chị Thủy C sống hạnh phúc được khoảng 10 tháng thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn là do anh T1 thường xuyên bạo lực gia đình, đi sớm về khuya không chăm lo cho cuộc sống của gia đình nên vợ chồng chị thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Anh T1 cũng thừa nhận về nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn của vợ chồng xuất phát từ phía mình. Mặc dù đã nhiều lần chị T khuyên ngăn chồng tập trung cho cuộc sống của vợ chồng nhưng không mang lại kết quả gì.
[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị Đỗ Thị Kim T và anh Đặng Ngọc T1 là do anh T1 không quan tâm đến cuộc sống của vợ chồng, thường xuyên đi sớm về muộn, bỏ mặc vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Nhiều lần anh T1 có hành vi bạo lực gia đình đối với chị T. Nhiều lần chị T cho anh T1 cơ hội để thay đổi tuy nhiên anh T1 vẫn chứng nào tật đó, không chịu thay đổi. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các buổi hoà giải, anh T1 cũng đã thừa nhận về nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn của vợ chồng và mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau và tình cảm phải xuất phát từ sự chân thành của hai phía. Nếu một bên xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết được ly hôn thì dù có hàn gắn đoàn tụ, cuộc sống chung giữa vợ và chồng cũng không thể mang lại hạnh phúc. Anh T1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật Hôn nhân gia đình làm cho tình cảm vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Đỗ Thị Kim T được ly hôn với anh Đặng Ngọc T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Đặng Ngọc Yến N, sinh ngày 22/6/2023. Kể từ khi ly thân, chị T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Anh T1 đồng ý giao con cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền và lợi ích về mọi mặt của con. Cháu Đặng Ngọc Yến N vẫn còn nhỏ tuổi, là nữ nên để đảm bảo cho sự ổn định tâm lý của con khi bố mẹ ly hôn và để thuận tiện trong việc nuôi dạy chăm sóc con cái. Hội đồng xét xử giao cháu Đặng Ngọc Yến N cho chị Đỗ Thị Kim T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị Kim T đề nghị anh Đặng Ngọc T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi đủ 18 tuổi. Anh T1 đồng ý với chị T về việc cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, giao cháu Đặng Ngọc Yến N cho chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp với nguyện vọng của các bên đương sự và quy định của pháp luật.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn anh Đặng Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim T, xử cho chị Đỗ Thị Kim T được ly hôn với anh Đặng Ngọc T1.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Đặng Ngọc Yến N sinh ngày 22/6/2023 cho chị T tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Đặng Ngọc T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Sau này nếu điều kiện thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, tài sản chung , không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tiền số 0004480 ngày 20/11/2024 (chị Đỗ Thị Kim T đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Đặng Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 05 /2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 05 /2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Th và anh Th yêu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình chồng tại xã P, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Hạnh phúc được khoảng 10 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn là do anh Th thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đi sớm về khuya, không quan tâm vun vén hạnh phúc gia đình. Từ đó, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Mặc dù đã nhiều lần chị Thuỷ cố gắng để hàn gắn nhưng không mang lại kết quả gì mà ngược lại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không thể kéo dài nên chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng ly thân đã được khoảng 6 tháng. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Ngọc Th.
