Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK R'LẤP

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 21 – 02 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nguyệt và ông Lê Thế Kỳ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số: 10/2024/TB-TA ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Lê L, sinh năm: 1999 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trắc N và bà Phạm Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt

- Bị hại: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt

- Người làm chứng:

Bà Phạm Thị M, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt

Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt

Anh Phạm Trọng Q, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, gia đình ông Lê Quang Đ và vợ là bà Nguyễn Thị V làm cơm tại nhà mời nhóm thợ khoan giếng cho gia đình ông Đ gồm anh Nguyễn Thành H và anh Nguyễn Hồng T. Gia đình ông Đ có mời thêm Phạm Lê L; bà Phạm Thị M – là mẹ của L và một số người khác đến ăn, uống rượu.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, giữa L và mẹ bà M xảy ra tranh cãi khi nói về nạn tham nhũng, hối lộ. Khi thấy L có thái độ và lời nói tranh cãi với mẹ mình như vậy thì ông Đ lên tiếng chửi L và ông Đ xảy ra tranh cãi. Khi này, anh Phạm Trọng Q là hàng xóm của ông Đ nghe thấy tiếng cãi nhau nên đi bộ qua xem. Khi thấy ông Đ và L lao vào đánh nhau bằng tay thì anh Q cùng mọi người vào căn ngăn, giữa L và ông Đ không có thương tích gì. Lúc này, anh Q kéo L ra và nói L đi về nhà, còn ông Đ được con gái kéo vào trong nhà. Do còn bực tức nên Phạm Lê L đi xuống bếp của nhà mình lấy 01 (một) con dao dùng để giết mổ heo dài khoảng 40cm, bằng kim loại, cán tre, mũi nhọn và dắt con dao vào sau lưng quần đi bộ từ nhà của bị cáo đến nhà ông Đ ). L đứng trong sân nhà ông Đ lớn tiếng chửi bới thách thức, lúc này, bà M thấy L mang theo con dao nên đã nhờ anh Q ra can ngăn L thì anh Q khuyên L đi về và đẩy L ra khỏi cổng. Trong lúc này, ông Đ thấy có người nói L mang theo dao thì chạy ra bên trái nhà lấy một cần xịt thuốc cỏ bằng kim loại rồi đi ra phía cổng.

Khi thấy L đi ra khỏi cổng khoảng 03m thì ông Đ từ trong sân chạy ra và dùng tay phải cầm cần xịt thuốc đánh một cái trúng vào vùng sau gáy của L. Do bị đánh nên L quay người lại, tay phải cầm con dao vung lên chém xuống một cái trúng vào bàn tay trái của ông Đ. Bị chém thì ông Đ thả cần xịt thuốc xuống đất rồi bỏ chạy, thấy vậy, L đuổi theo nhưng bị ngã, con dao L cầm trên tay bị văng xuống đất. Khi này, anh Q nhặt cần xịt thuốc và con dao cầm vào trong sân rồi ném về phía vườn cà phê ở bên trái sân tính từ ngoài cổng đi vào. Sau đó, mọi người vào căn ngăn thì L đi về còn ông Đ được đưa đi cấp cứu.

Hậu quả: ông Lê Quang Đ bị 01 (một) vết thương bàn tay trái đứt toàn bộ gân gấp nông sâu các ngón I, II, III, IV, V, đứt gân dạng duỗi ngón V, đứt cơ mô út, đứt bó mạch thần kinh trụ, thần kinh giữa, gãy một vỏ xương bàn IV, gãy xương bàn V. Phạm Lê L không bị thương tích gì.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 177/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả giám định:

  • + 01 sẹo phần mềm nằm ngang tại mặt lòng bàn tay trái, K, tỷ lệ 02%.
  • + 01 sẹo phần mềm nằm dọc tại mặt lòng bàn tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
  • - Kết quả khám chuyên khoa: Không.
  • - Kết quả cận lâm sàn: Không.
  • - Kết quả khác: Không.

2. Kết luận:

- Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định tỉ lệ phần trăng tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Quang Đ tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổn thương tại mặt lòng bàn tay trái của ông Lê Quang Đ do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

+ Hiện tại đứt gân gấp nông sâu các ngón I, II, III, IV, V; đứt gân dạng duỗi ngón V; đứt mô cơ út, đứt bó mạch thần kinh trụ, thần kinh giữa; gãy nền xương bàn ngón III, IV, V của ông Lê Quang Đ đang trong quá trình điều trị chưa thể đánh giá được các di chứng của tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 337/KLTTCT-TTPY ngày 20/8/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Đ, đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Lê Quang Đ, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

  • +Tổn thương nhánh thần kinh trụ bàn tay trái, tỷ lệ 11%.
  • + Tổn thương nhánh thần kinh giữa bàn tay trái, tỷ lệ 11%
  • + Gãy nhiều hơn hai xương bàn tay trái, tỷ lệ 16%.
  • + Cứng một khớp liên đốt ngón II bàn tay trái, tỷ lệ 03%.
  • + Cứng một khớp liên đốt ngón III bàn tay trái, tỷ lệ 01%.
  • + Cứng một khớp liên đốt ngón IV bàn tay trái, tỷ lệ 01%.
  • + Cứng một khớp liên đốt ngón V bàn tay trái, tỷ lệ 01%.
  • + Đứt gân gấp nông sâu các ngón I, II, III, IV, V; đứt gân dạng duỗi ngón V; đứt cơ mô út đã khâu nối được tính như sẹo phần mềm.

- Kết quả cận lâm sàng: Chỉ định X/quang xương bàn tay trái, đo điện thần kinh cơ tay trái để kiểm tra.

+ X/quang xương bàn tay trái: Gãy xương bàn ngón V bàn tay trái đã can thiệp xương cố định.

+ Đo điện thần kinh cơ tay trái: Tổn thương hoàn toàn thần kinh giữa và thần kinh trụ bên trái, định khu ở gan tay, trên chỗ chia nhánh cho cơ dạng ngắn ngón I và ngón V. Hiện tại EMG chưa ghi nhận kết tập tại cơ dạng ngắn ngón I, ngón V và cơ gian cốt I mu tay.

- Kết quả khác: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Quang Đ tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 177/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ là: 03%

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Quang Đ tại thời điểm giám định bổ sung là: 37 % áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Quang Đ theo Bản kết luận số 177/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ và Kết luận giám định bổ sung là: 39%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

+ Các tổn thương của Lê Quang Đ do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã thu giữ gồm:

  • - 01 (một) con dao bằng kim loại, cán bằng tre, có mũi nhọn. Chiều dài lưỡi dao 37,2 (cm), phần rộng nhất của lưỡi dao là 04 (cm); cán dao dài 13 (cm), đường kính nơi lớn nhất của cán dao là 3,5 (cm). Con dao dính nhiều bùn đất, đã có dấu hiệu hoen rỉ;
  • - 01 (một) vòi xịt thuốc bằng kim loại, bị cong, một phần được bọc bằng nhựa màu xanh. Tổng chiều dài của vòi xịt thuốc là 1,33 (m); phần bọc nhựa có chiều dài 0,7 (m), đường kính thân vòi được bọc nhựa là 0,8 (cm), phần đầu vòi xịt thuốc gắn ống nhựa màu đỏ, phần ống nhựa màu đỏ có chiều dài 6,8 (cm), đường kính 03 (cm).

Cáo trạng số: 93/CT-VKS-ĐL ngày 27-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Phạm Lê L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng người, đúng pháp luật.

Bị hại ông Lê Quang Đ yêu cầu bị cáo Phạm Lê L bồi thường thiệt hại các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở trong cả quá trình khám chữa bệnh là 28.998.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại 18.000.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại là 37.000.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại là 18.000.000 đồng, tổng số tiền là 101.998.000 đồng, nhưng tại phiên tòa bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Lê L đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho ông Lê Quang Đ.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Linh P tôi “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng khoản điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Lê L từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 con dao và 01 vòi xịt thuốc là công cụ phạm tội liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Tại phiên tòa bị hại Lê Quang Đ yêu cầu bị cáo Phạm Lê L bồi thường thiệt hại số tiền 100.000.000 đồng, đồng thời xác nhận không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Bị cáo nhất trí bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo; buộc bị cáo Phạm Lê L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại ông Lê Quang Đ tổng số tiền là 100.000.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập hợp pháp được lưu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào lúc 19 giờ ngày 13/5/2024 tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông bị cáo Phạm Lê L và bà Phạm Thị M (là mẹ của bị cáo) xảy ra tranh chãi khi nói về nạn tham nhũng, hối lộ. Khi thấy bị cáo có thái độ và lời nói tranh vãi với mẹ thì ông Lê Quang Đ lên tiếng chửi bị cáo, rồi giữa ông Đ và bị cáo xảy ra xô xát, đánh nhau, sau đó bị cáo về nhà xuống bếp lấy 01 con dao sang nhà ông Đ thách thức chửi bới, khi bị ông Đ dùng cần xịt thuốc bằng kim loại đánh thì bị cáo đã dùng con dao (là hung khí nguy hiểm) chém gây thương tích đối với ông Lê Quang Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39% (ba mươi chín phần trăm).

Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Lê L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;”

[3]. Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ nhận thức được tính mạng, sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng với ý thức coi thường sức khỏe mà bị cáo đã phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[4]. Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém gây thương tích đối với ông Lê Quang Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39% đây là tình tiết định khung hình phạt theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa bị cáo cũng có ý thức về việc bồi thường thiệt hại cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại ông Lê Quang Đ yêu cầu bị cáo Phạm Lê L bồi thường thiệt hại tổng số tiền 101.998.000 đồng, gồm các khoản: Chi phí khám bệnh, chữa bệnh; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở trong cả quá trình khám chữa bệnh là 28.998.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại 18.000.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại là 37.000.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại là 18.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị hại ông Lê Quang Đ chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 100.000.000 đồng, đồng thời xác nhận không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác. Bị cáo Phạm Lê L đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại. Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận bồi thường là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao và 01 vòi xịt thuốc là công cụ phạm tội liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông đối với tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp cần chấp nhận.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Đối với hành vi của ông Lê Quang Đ dùng cần xịt thuốc để đánh L, tuy nhiên không gây ra thương tích gì trên cơ thể của Phạm Lê L, do đó hành vi của ông Đ không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đ là phù hợp cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Lê L phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Lê L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Phạm Lê L bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Quang Đ tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy đối với 01 con dao và 01 vòi xịt thuốc là công cụ phạm tội liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Buộc bị cáo Phạm Lê L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk R'Lấp;
  • - Phòng PV 06 và PC 10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk R'Lấp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký và đóng dấu

Trần Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phạm Lê L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger