|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS – ST
Ngày: 21/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Nưm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y Hiền
Bà Chu Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 02 thá ng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST- HS ngày 15/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QÐST- HS ngày 14/02/2025 đối với bị cáo:
Đào Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 4 năm 1995; tại: tỉnh Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; cấp ngày 06/9/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không. Con ông Đào Ngọc L; Sinh năm: 1968 và bà Lê Thị Kim D; Sinh năm: 1967; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đào Ngọc S: Ông Nguyễn Duy H; sinh năm: 1957; Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G.
- Bị hại: A T; sinh ngày 12/7/2004; trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: A Eu R; sinh ngày 17/8/2007; trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Người đại diện theo pháp luật của A Eu R là anh A S1 và chị Y Ry N; trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Đào Ngọc S điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 82C-040.95 di chuyển từ thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum về xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum theo đường nhựa liên xã (đường T) với tốc độ khoảng 50 – 60km/h; trên xe ngồi ở ghế phụ có Võ Thị Thúy P (sinh năm 1993) và Nguyễn Trọng B (sinh năm 2008; cùng trú tại thôn H, xã D, huyện Đ, tỉnh Kon Tum). Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường có biển báo hiệu “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp” thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; S phát tín hiệu còi cảnh báo và đánh lái sang trái cho xe ôtô di chuyển đi giữa đường với tốc độ khoảng 40–50km/h nhằm ôm cua khi đến đoạn vào cua. Khi xe vừa đến khúc cua bên trái (theo hướng di chuyển của xe ôtô), S phát hiện ở phần đường ngược chiều có xe môtô biển kiểm soát 59D2.241.89 do A Eu R điều khiển chở phía sau A T đang di chuyển đến với tốc độ nhanh. Lúc này, S đạp thắng và đánh lái về bên phải. Do chạy tốc độ nhanh, khi phát hiện xe ôtô A Eu R giật mình đạp thắng làm xe môtô loạng choạng tay lái rồi phần đuôi xe môtô va chạm vào bánh trước phía bên tài xe ôtô. Khi va chạm, A T văng ra khỏi xe ngã xuống đường, xe môtô và A E Riu bị ngã trượt trên mặt đường một đoạn và nằm trên mép mương thoát nước ở lề đường bên trái (theo hướng di chuyển của xe ôtô). Hậu quả, A T bị thương, xe môtô bị hư hỏng.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 07/6/2024 tại đường liên xã đoạn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Đây là đoạn đường cong, độ dốc 5%, mặt đường rải nhựa phẳng. Đoạn đường không có vạch kẻ đường phân chia làn đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Hai bên đường có dân cư sinh sống. Cách hiện trường 128m về hướng xã Đ, ở phần đường bên phải có biển báo “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp”. Cách hiện trường 132m hướng xã Đ đi xã Đ có biển báo “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp”. Hiện trường ghi nhận vị trí xe ôtô biển kiểm soát 82C-040.95; xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89; 01 vết lốp và 04 vết cà do xe môtô tạo ra; 01 vết phanh của xe ôtô; vị trí nạn nhân A T nằm bất tỉnh. Lấy chiều hướng khám nghiệm theo hướng xã Đ (thôn Đ) đi xã Đ (thôn K Đ). Các số đo được tính đến mép đường nhựa bên phải theo hướng khám nghiệm. Lòng đường rộng 4,35m. Lòng đường tại vị trí đoạn cua (vị trí tai nạn) rộng 5m. Xe ôtô biển kiểm soát 82C-040.95 dừng trên đường, đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. Từ trục trước bên tài xe ôtô đến mép đường nhựa bên phải là 2,8m; từ trục sau bên tài xe ôtô đến mép đường nhựa bên phải là 3,05m; từ trục trước bên phụ xe ôtô đến mép đường nhựa bên phải là 1,15m; từ trục sau bên phụ xe ôtô đến mép đường nhựa bên phải là 1,45m. Xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 nằm ngã nghiêng trên lề đường, phần chân dậm số tiếp giáp với mặt đường. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Từ trục trước xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 4,9m; từ trục sau xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 5,8m. Vị trí nạn nhân A T (ký hiệu NN) nằm bất tỉnh trên phần đường hướng xã Đ đi xã Đ. Đầu nạn nhân quay hướng Tây, chân nạn nhân quay hướng Đông. Vị trí đầu nạn nhân trùng với tâm vết máu (ký hiệu VM) không rõ hình dạng, có kích thước
(0,5x0,8)m. Từ đầu nạn nhân (tâm vết máu) đến mép đường nhựa bên phải là 3,6m; đến trục trước xe môtô là 10m, đến trục sau xe môtô là 10,75m. Xe ôtô biển kiểm soát 82C-040.95 để lại 01 vết phanh (ký hiệu VP) theo chiều hướng Đông Bắc - T. Vết phanh dài 6,3m. Đầu vết phanh đến mép đường nhựa bên phải là 3,25m; cuối vết phanh đến mép đường nhựa bên phải là 3m. Đầu vết phanh đến trục trước bên tài xe ôtô là 9,7m, đến trục sau bên tài xe ôtô là 7m, đến trục trước bên phụ xe ôtô là 9,8m, đến trục sau bên phụ xe ôtô là 7,1m. Xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 để lại 01 vết lốp (ký hiệu VL) và 04 vết cà (ký hiệu VC1-VC4) theo chiều hướng N1 - Bắc. Vết lốp dài 1,7m. Đầu vết lốp đến mép đường nhựa bên phải là 3,5m; cuối vết lốp đến mép đường nhựa bên phải là 3,5m. Vết cà 1 dài 0,85m; đầu vết cà 1 đến mép đường nhựa bên phải là 4,3m; cuối vết cà 1 đến mép đường nhựa bên phải là 4,3m. Vết cà 2 dài 0,6m; đầu vết cà 2 đến mép đường nhựa bên phải là 4,2m; cuối vết cà 2 đến mép đường nhựa bên phải là 4,1m. Vết cà 3 dài 1,1m; đầu vết cà 3 đến mép đường nhựa bên phải là 4m; cuối vết cà 3 đến mép đường nhựa bên phải là 3,9m. Vết cà 4 dài 0,65m; đầu vết cà 4 đến mép đường nhựa bên phải là 4,5m; cuối vết cà 4 đến mép đường nhựa bên phải là 4,4m. Từ đầu vết cà 1 đến trục trước xe môtô là 15,6m. Từ đầu vết cà 2 đến trục trước xe môtô là 13,7m. Từ đầu vết cà 3 đến trục trước xe môtô là 12,5m. Từ đầu vết cà 4 đến trục trước xe môtô là 12,4m. Từ trục trước xe môtô đến trục sau bên tài xe ôtô là 17,8m; đến trục trước bên tài xe ôtô là 20,5m; đến trục sau bên phụ xe ôtô là 18,4m; đến trục trước bên phụ xe ôtô là 21m; đến đầu vết lốp là 21,7m. Căn cứ chiều hướng chuyển động, vị trí của các phương tiện, các dấu vết để lại tại hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện, lời khai những người có liên quan và quá trình khám nghiệm hiện trường xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe ôtô biển kiểm soát 82C-040.95 và xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 chiếu vuông góc xuống mặt đường được gọi là điểm đụng đầu. Từ điểm đụng đầu đến mép đường nhựa bên phải là 3,15m; đến trục trước bên tài xe ôtô là 3,15m, đến trục trước bên phụ xe ôtô là 3,65m, đến trục sau bên tài xe ôtô là 0,4m, đến trục sau bên phụ xe ôtô là 1,75m; đến đầu vết phanh là 6,45m; đến đầu vết lốp là 5,2m; đến trục trước xe môtô là 17,4m, đến trục sau xe môtô là 18,1m. Lấy trụ điện ký hiệu LT84C bên trái đường theo hướng khám nghiệm (hướng xã Đ đi xã Đ) làm vật chuẩn. Từ vật chuẩn kéo vuông gốc đến mép đường nhựa bên trái là 3,85m; đến điểm đụng đầu là 12,75m; đến trục sau bên tài xe ôtô là 13,15m, đến trục trước bên tài xe ôtô là 15,6m, đến trục trước bên phụ xe ôtô là 16,4m, đến trục sau bên phụ xe ôtô là 14,1m; đến đầu vết phanh là 7,8m; đến đầu vết lốp là 16,5m; đến đầu vết cà 1 là 10,8m, đến đầu vết cà 2 là 9,25m, đến đầu vết cà 3 là 7,9m, đến đầu vết cà 4 là 8,05m; đến tâm vết máu là 6,7m; đến trục trước xe môtô là 6,1m, đến trục sau xe môtô là 6,2m.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể đối với A T: Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 103/KLTTCT-TTPY ngày 18/7/224 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng
trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A T tại thời điểm giám định là 69,15% làm tròn 69%.
Kết luận giám định phương tiện:
- - Đối với phương tiện mang biển số đăng ký 82C-040.95: Bên ngoài xe: Mặt ngoài lốp trước và vành trước phía bên trái bị trầy xước nhẹ. Kiểm tra hệ thống lái: Độ trượt ngang -3.5 (mm/m). Hệ thống lái đạt yêu cầu. Kiểm tra hệ thống phanh: Phanh đỗ: Hiệu quả phanh đỗ 13 (%). Phanh đỗ không đạt yêu cầu. Phanh chính: Hiệu quả phanh chính 59 (%), hiệu quả phanh chính đạt yêu cầu. Hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục (trục 02) lớn hơn 25 (%). Hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên cùng một trục không đạt yêu cầu. Kiểm tra hệ thống đèn: Đèn chiếu sáng đạt yêu cầu.
- - Đối với phương tiện mang biển số đăng ký 59D2-241.89: Bên ngoài xe: Chắn bùn bánh xe sau, cụm đèn sau: Bể vỡ hoàn toàn, tách rời vị trí lắp ghép. Phần sau ốp nhựa hông xe phía bên phải bị bể vỡ. Lốp sau bị rách, vành sau tại vị trí vết rách của lốp bị mòn khuyết. Ốp nhựa hông xe phía bên trái bị trầy xước. Cần đạp phanh sau bị cong vênh. Cánh manh chắn gió bên phải bể vỡ. Kiểm tra hệ thống phanh: Phanh trước (phanh đĩa): Hoạt động bình thường, không phát hiện có hiện tượng bị hư hỏng. Phanh trước có tác dụng. Phanh sau (phanh đĩa): Cơ cấu phanh tại bánh xe hoạt động bình thường, không phát hiện có hiện tượng bị hư hỏng. Kiểm tra hệ thống lái: Càng lái cân đối, điều khiển nhẹ nhàng, lắp chắc chắn với trục lái; giảm chấn của càng lái hoạt động tốt; trục lái không có độ rơ dọc trục và độ rơ hướng kính; góc quay lái sang bên phải và bên trái của xe bằng nhau và có cơ cấu hạn chế hành trình của góc quay lái. Hệ thống lái có tác dụng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, chất kích thích:
- - Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở do cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Đ thực hiện lúc 18:30 ngày 07/6/2024 đối với Đào Ngọc S cho kết quả: 0.000 mg/L.
- - Tại phiếu kết quả test nhanh chất gây nghiện thực hiện lúc 22:08 ngày 07/6/2024 đối với Đào Ngọc S cho kết quả âm tính các chất gây nghiện.
- - Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở do cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Đ thực hiện lúc 20:39 ngày 07/6/2024 đối với A Eu R cho kết quả: 0.250 mg/L.
- - Tại phiếu kết quả test nhanh chất gây nghiện thực hiện lúc 22:10 ngày 07/6/2024 đối với A Eu R cho kết quả âm tính các chất gây nghiện.
Kết luận định giá tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HÐÐG ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị bị thiệt hại của 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 mang nhãn hiệu YAMAHA, số khung 0610GY281107, số máy G3D4E295062; thời điểm định giá tháng 6/2024; tài sản thành tiền là 1.670.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng).
Về giấy phép lái xe:
- - Đào Ngọc S có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 19/10/2023.
- · Đối với A Eu R (dưới 18 tuổi) không đủ điều kiện điều khiển xe môtô hai bánh có dung tích xi-lanh từ 50cm³ trở lên theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Đào Ngọc S đã bồi thường cho bị hại A T số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng); gia đình A Eu R bồi thường cho A T số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bị hại A T không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và không yêu cầu bị cáo Đào Ngọc S phải bồi thường đối với các hư hỏng của xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89.
Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 15/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Đào Ngọc S về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đào Ngọc S về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Đào Ngọc S, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng phạt tiền làm hình phạt chính với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đề cạp xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận xong việc bồi thường nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm do lỗi vô ý; nhân thân bị cáo Đào Ngọc S, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đào Ngọc S (không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự). Bị cáo Đào Ngọc S có sức khỏe tốt, có việc làm và thu nhập ổn định, là con trai út trong gia đình, có tài sản đứng tên chủ sở hữu 02 xe mô tô (mang biền kiêm soát số 82U1- 084.27 trị giá khoảng 52 triệu đồng và xe mô tô mang biên kiêm soát sô 82U1- 014.53 trị giá khoảng 18 triệu đồng); đồng thời đã được cha mẹ cho chăm sóc, thu hoạch trực tiếp sản phẩm diện tích 02 ha cao su đang khai thác mủ, thu nhập bình quân được 9.000.000 đồng/ tháng (Chín triệu đồng một tháng); có đủ điều kiện về tài chính, thu nhập để bảo đảm việc thi hành án; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 9; Khỏan 1 Điều 11; điểm b khoản 1 Điều 32; điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35; Điều 50; điểm b, điểm s khoản 1 Điêu 51 và 04 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 (Bị cáo đã có thành tích trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia công tác tại địa phương cư trú, đã được Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh K khen thưởng danh hiệu Chiến sỹ Tiên tiến và được Ban Chỉ đạo hoạt động hè năm 2024 - UBND xã D khen thưởng Giấy khen; Bị cáo có cô ruột là Đào Thị Minh T1, sinh năm 1959, là người có công với cách mạng, tham gia bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tham gia chiến đấu tại chiến trường Đ và Măng B1, tỉnh Kon Tum, là Thương binh và đã được tặng thưởng Huy hiệu 40 năm Tuổi Đảng, được tặng thưởng nhiều bằng khen; Anh A T đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Người bị hại (anh A T) đã có phần lỗi (đã giao xe mô tô cho A E Riu đang trong tình trạng say rượu bia điều khiển xe mô tô và không đủ tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xy-lanh từ 50cm³ trở lên)); khoản 1, khoản 3 Điều 54 và điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề xem xét, quyết định áp dụng hình phạt: Phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đối với bị cáo Đào Ngọc S theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự nhằm giáo dục sâu sắc bị cáo Đào Ngọc S thường xuyên nâng cao ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, tạo điều kiện cho bị cáo Đào Ngọc S nhận thức được sự khoan hồng của Nhà nước, của pháp luật đối với bản thân bị cáo; từ đó đem lại cơ hội cho bị cáo Đào Ngọc S khắc phục sai phạm đã xảy ra, không để tái phạm và được tiếp tục tham gia sinh hoạt, công tác tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Đào Ngọc S phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 07/6/2024, khi điều khiển xe ôtô tải biển kiểm soát 82C-040.95 đến đoạn đường có biển báo hiệu “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp” thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Đào Ngọc S phát tín hiệu còi cảnh báo đồng thời đánh
lái sang trái cho xe ôtô di chuyển đi giữa đường với tốc độ khoảng 40-50km/h nhằm ôm cua khi đến đoạn vào cua. Khi xe ôtô vừa đến khúc cua bên trái (theo hướng di chuyển của xe ôtô), S phát hiện ở phần đường ngược chiều có xe môtô biển kiểm soát 59D2.241.89 do A Eu R điều khiển chở phía sau A T đang di chuyển đến với tốc độ nhanh. Do khoảng cách gần, Đào Ngọc S chỉ kịp đạp thắng và đánh lái về bên phải thì xe môtô do A Eu R điều khiển chạy đến bị loạng choạng tay lái rồi phần đuôi xe môtô va chạm vào bánh trước phía bên tài xe ôtô làm xe môtô và A Eu R bị ngã trượt trên đường, A T bị văng ra khỏi xe ngã nằm trên đường. Hậu quả A T bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 69%, xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 bị thiệt hại là 1.670.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng).
Như vậy, hành vi điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 82C-040.95 đi không đúng phần đường và không đi về bên phải theo chiều đi của mình (vi phạm Điều 9 Luật Giao thông đường bộ) dẫn đến tai nạn giao thông làm A T bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 69%, xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 bị thiệt hại là 1.670.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng) của Đào Ngọc S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi điều khiển xe ôtô đi không đúng phần đường và không đi về bên phải theo chiều đi của mình dẫn đến tai nạn giao thông nêu trên của bị cáo Đào Ngọc S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng mà pháp luật công nhận và bảo vệ đó là sức khỏe và tài sản của người khác tham gia giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Nhận thấy, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng); bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ tháng 02/2016 đến tháng 02/2018 bị cáo thực hiện nghĩa vụ quân sự, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ tại Bộ Chỉ huy Bộ Đội Biên Phòng tỉnh K được đơn vị tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến”. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo tham gia công tác đoàn, hội được UBND xã D tặng giấy khen. Ngoài ra, trong vụ tai nạn giao thông này,
người điều khiển xe môtô A Eu R cũng có lỗi đó là: Điều khiển xe môtô trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia; chưa đủ tuổi để được điều khiển xe môtô có dung tích xi-lanh từ 50cm³. Người bị hại A T có lỗi: Giao xe môtô cho A E Riu điều khiển tham gia giao thông khi chưa đủ tuổi để được điều khiển xe môtô có dung tích xi-lanh từ 50cm³ trở lên và điều khiển xe môtô khi đã sử dụng rượu, bia. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng của vụ án: 01 (một) xe ôtô tải biển kiểm soát 82C-040.95; 01 (một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Đào Ngọc S; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô của phương tiện mang biển kiểm soát 82C-040.95; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định phương tiện mang biển kiểm soát 82C-040.95; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89. Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu đối với các vật chứng nếu trên. Xét thấy việc trả lại giấy tờ, phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo Đào Ngọc S đã thăm hỏi và bồi thường cho A T số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm ngàn đồng); gia đình A Eu R bồi thường cho A T số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bị hại A T không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và không yêu cầu bị cáo Đào Ngọc S phải bồi thường đối với các hư hỏng của xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác:
Quá trình điều tra, xác định: Ngày 07/6/2024, A Eu R điều khiển xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia; chưa đủ tuổi để được điều khiển xe môtô có dung tích xi-lanh từ 50cm³ trở lên (vi phạm Khoản 8 Điều 8; Điều 58 Luật Giao thông đường bộ (Khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019)). Tuy nhiên, xét thấy các lỗi vi phạm nói trên chỉ là lỗi vi phạm hành chính không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với A Eu R về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với việc A T giao xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 cho A Eu R điều khiển tham gia giao thông khi A Eu R chưa đủ tuổi để được điều khiển xe môtô có dung tích xi-lanh từ 50cm³ trở lên và điều khiển xe môtô khi đã sử dụng rượu, bia gây tai nạn giao thông dẫn đến thương tích cho bản thân A T đến 69% được loại trừ trách nhiệm hình sự. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với A T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tuy nhiên, các hành vi của A Eu R và A T đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ “quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”; Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính Phủ “sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng” chuyển các tài liệu liên quan và phương tiện xe môtô biển kiểm soát 59D2-241.89 cho Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Đ để xử lý hành chính theo thẩm quyền là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Ngọc S 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đào Ngọc S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quách Văn Nưm |
Bản án số 05/2025/HS – ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 05/2025/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc Sự vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
