Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 05/2025/DS-ST

Ngày 20-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐ-ST ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A), địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; địa chỉ trụ sở chi nhánh: Xã N, huyện T (nay là Phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Đ, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh N2, là người đai diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 26/11/2024); có mặt.

- Bị đơn: Ông Đinh Như H, sinh năm 1967 và bà Đinh Thị P, sinh năm 1964; cùng nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T (nay là Tổ dân phố L, phường L, thành phố T), thành phố Hải Phòng; ông H có mặt, bà P vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đinh Như H1, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T (nay là Tổ dân phố L, phường L, thành phố T), thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là Ngân hàng N1 trình bày:

Ngân hàng N1 (A) -Chi nhánh N2 đã ký với ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P theo Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 ngày 01/11/2016 cụ thể như sau:

  • Ngày giải ngân: 02/11/2016
  • Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng: 01/11/2027.
  • Số tiền vay: 10.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ đồng).
  • Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền đóng mới 01 tàu đánh cá nghề chụp vỏ gỗ công suất 829HP và lắp đặt các thiết bị phục vụ việc khai thác thủy hải sản xa bờ theo Hợp đồng đóng mới tàu cá số 54/HĐĐT-2016 ngày 18/9/2016 đã ký giữa ông Đinh Như H và Cơ sở đóng tàu của ông Đinh Khắc N.
  • Lãi suất tại thời điểm cho vay: 7%/năm.
  • Dư nợ gốc đến thời điểm khởi kiện là: 6.770.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ bảy trăm bảy mươi triệu đồng) và nợ lãi phát sinh chưa trả từ ngày 21/10/2020 đến nay.

Tài sản bảo đảm: Bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 ngày 01/11/2016 cụ thể như sau:

- Theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai đã ký giữa A chi nhánh N2 (Bên nhận thế chấp) với ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P (Bên thế chấp) đã được Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng chứng thực số công chứng 7549/HĐTC/2016 ngày 02/11/2016 và các Văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 5884/HĐTC/2017 ngày 23/6/2017, số 5376/HĐTC/2019 ngày 20/5/2019 kèm theo, cụ thể như sau:

+ Tài sản thế chấp là: Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS, công suất 829 HP, chiều dài lớn nhất 26,50 m, chiều rộng lớn nhất 7,60 m, chiều cao mạn 3,25 m, đóng năm 2016 tại Hải Phòng.

+ Giấy tờ tài sản thế chấp là: Giấy chứng nhận đăng ký tầu cá số 28-170, số đăng ký HP-90790-TS, vào số ĐKTCQG số 3 ngày 29/5/2017 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố H cấp ngày 29/5/2017 cho chủ tàu ông Đinh Như H.

Việc thế chấp tài sản bảo đảm đã được lập hợp đồng thế chấp, được chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng: Ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P đã vi phạm hợp đồng; không thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn đã cam kết.

Tính đến hết ngày 31/5/2024, ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P còn nợ A tổng số tiền là: 8.831.201.528 đồng (Bằng chữ: Tám tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm linh một ngàn năm trăm hai mươi tám đồng). Trong đó:

  • Nợ gốc: 6.770.000.000 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn: 1.834.674.722 đồng (có bảng kê kèm theo).
  • Nợ lãi phạt quá hạn: 226.526.806 đồng (có bảng kê kèm theo).

A đã làm đơn khởi kiện ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng buộc ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại A cụ thể như sau:

Buộc ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P trả cho A số tiền tạm tính đến hết ngày 31/5/2024 là 8.831.201.528 đồng (Bằng chữ: Tám tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, hai trăm linh một ngàn năm trăm hai mươi tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 6.770.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn và quá hạn là 2.061.201.528 đồng và toàn bộ lãi phát sinh đến khi trả hết nợ. Trường hợp ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P không thanh toán được số nợ gốc cộng tiền lãi phát sinh trên nợ gốc, buộc phát mại tài sản thế chấp như sau:

- Tài sản bảo đảm là động sản nêu trên đứng tên chủ sở hữu, sử dụng là ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P bảo đảm cho khoản nợ vay của ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P. Số tiền phát mại tài sản thế chấp lớn hơn số tiền gốc và lãi phát sinh trên nợ gốc thì A có trách nhiệm thanh toán số tiền còn dư cho ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P; nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp nhỏ hơn số tiền gốc và lãi phát sinh trên nợ gốc thì ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải tiếp tục trả số tiền còn thiếu hoặc sẽ phải dùng tài sản khác để trả nợ cho A.

* Đối với bị đơn là ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P:

Theo Công văn số 12325/QLXNC-P3 ngày 17/6/2024 của Cục Q thể hiện: Ông Đinh Như H đã xuất cảnh ngày 28/5/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, bà Đinh Thị P đã xuất cảnh ngày 11/01/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Ngày 29/10/2024 ông Đinh Như H có mặt ở Việt Nam, tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/10/2024, ông Đinh Như H trình bày:

Theo dự án của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014, ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P đã ký với Ngân hàng N1 – Chi nhánh N2 Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 ngày 01/11/2016 với số tiền vay là 10.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ đồng), ngày giải ngân: 02/11/2016; ngày đến hạn trả

nợ cuối cùng: 01/11/2027; mục đích vay vốn: Thanh toán tiền đóng mới 01 tàu đánh cá nghề chụp vỏ gỗ công suất 829HP và lắp đặt các thiết bị phục vụ việc khai thác thủy hải sản xa bờ theo Hợp đồng đóng mới tàu cá số 54/HĐĐT-2016 ngày 18/9/2016 đã ký giữa ông H và Cơ sở đóng tàu của ông Đinh Khắc N. Lãi suất tại thời điểm cho vay: 7%/năm, trong đó Nhà nước hỗ trợ cho gia đình ông H 4%.

Theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai đã ký giữa A chi nhánh N2 (Bên nhận thế chấp) với ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P (Bên thế chấp) đã được Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng chứng thực số công chứng 7549/HĐTC/2016 ngày 02/11/2016 và các Văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 5884/HĐTC/2017 ngày 23/6/2017, số 5376/HĐTC/2019 ngày 20/5/2019 kèm theo: Tài sản thế chấp là Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS, công suất 829 HP, chiều dài lớn nhất 26,50 m, chiều rộng lớn nhất 7,60 m, chiều cao mạn 3,25 m, đóng năm 2016 tại Hải Phòng. Giấy tờ tài sản thế chấp là: Giấy chứng nhận đăng ký tầu cá số 28-170, số đăng ký HP-90790-TS, vào sổ ĐKTCQG số 3 ngày 29/5/2017 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố H cấp ngày 29/5/2017 cho chủ tàu là ông H.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng: Sau khi được Ngân hàng giải ngân số tiền 10 tỷ đồng, gia đình ông H bà P vẫn chấp hành việc trả lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng. Nhưng từ khi dịch C xảy ra vào khoảng năm 2019, do tình hình dịch bệnh nên làm ăn thua lỗ, dẫn đến việc ông bà không có khả năng trả tiền nợ gốc lãi cho Ngân hàng. Đến nay, gia đình ông bà đã trả cho Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi là hơn 4 tỷ đồng. Tính đến hết ngày 21/10/2024, ông bà còn nợ Ngân hàng nợ gốc 6.740.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.022.541.111 đồng, nợ lãi phạt quá hạn là 273.744.722 đồng, tổng số tiền là 9.036.285.833 đồng.

Đối với tài sản thế chấp là Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS: Toàn bộ chi phí đóng tàu là của ông H bà P bỏ ra, tổng số tiền đóng tàu đến lúc hoàn thiện là 15,9 tỷ đồng. Tàu cá hiện nay do con trai ông bà là anh Đinh Như H1, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng đang sử dụng nhưng tàu cá vẫn đứng tên ông là Đinh Như H, hiện gia đình chưa chuyển nhượng, tặng cho cho ai. Tàu cá này anh H1 hiện vẫn đang sử dụng để đánh cá ở khu vực B, Thanh Hóa, Nam Định,... Gia đình ông vẫn đang thực hiện việc đăng kiểm hàng năm cho chiếc tàu.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, hiện nay gia đình ông bà đang làm ăn khó khăn, ông bà có nguyện vọng được trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng hàng tháng, số tiền trả nợ cho Ngân hàng hàng tháng phụ thuộc vào kết quả làm kinh tế của gia đình ông bà, ông bà mong Ngân hàng tạo điều kiện để gia đình

ông bà giữ lại tàu cá để làm ăn. Trường hợp Ngân hàng không đồng ý, ông bà đồng ý phát mại tài sản thế chấp là chiếc tàu cho Ngân hàng.

Từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024 và từ tháng 5/2024 đến tháng 9/2024, ông H và bà P sang Hàn Quốc để chơi với gia đình con gái, đến nay ông H đã về Việt Nam, còn bà P lại quay trở lại Hàn Quốc để trông cháu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Như H1 trình bày:

Anh H1 đang là người quản lý tàu và thực hiện công việc đánh bắt hải sản ở vùng biển B. Hiện nay, việc đánh bắt hải sản khó khăn nên anh H1 đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để anh H1 trả nợ dần. Đối với bố mẹ anh là ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P, hiện tại bố mẹ anh đang cư trú tại Hàn Quốc, chưa có thời gian quay trở lại Việt Nam, do đó các văn bản, thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án, anh H1 đề nghị Tòa án giao cho anh và anh có trách nhiệm thông báo cho ông H bà P. Anh H1 khẳng định tàu đánh cá nêu trên là của ông H, bà P.

* Tài liệu Tòa án thu thập:

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện:

  1. Thông tin tàu: Số đăng ký HP-90790-TS, chủ tàu Đinh Như Huân, người quản lý tàu anh Đinh Như H1, năm đóng tàu: 2016; nơi đóng tàu: Hải Phòng; công dụng: Tàu đánh bắt thủy hải sản; vật liệu thân vỏ: gỗ; tổng dung tích: 115,6; chiều dài: 26,5m; chiều rộng: 7,6m; chiều cao mạn 3,25m; tổng công suất máy tính: 829cv; số lượng máy chính:1; ký hiệu máy: YANMAR; số máy: 6526; công suất 610; năm và nơi chế tạo: Máy cũ, Nhật Bản: Máy vẫn hoạt động bình thường.
  2. Theo anh Đinh Như H1 cung cấp: Tàu đánh cá nêu trên vẫn hoạt động bình thường, anh H1 đang là người quản lý tàu và thực hiện việc đánh bắt cá ở vùng biển B. Hiện nay do gió mùa nên tàu đang neo đậu tại Cảng cá Mắt R.
  3. Tàu cá nêu trên mới thực hiện việc đăng kiểm theo Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá số 24172/HN/ĐKTC ngày 25/7/2024 tại trung tâm đăng kiểm tàu cá tại Chi cục Thủy sản T.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện hợp pháp của Ngân hàng A giữ nguyên các yêu cầu về việc tính gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn đối với khoản vay: Đến thời điểm xét xử (ngày 20 tháng 02 năm 2025), bị đơn phải thanh toán tổng số tiền là: 9.213.069.250 đồng. Trong đó nợ gốc: 6.713.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 2.182.021.722 đồng. Nợ lãi quá hạn: 318.047.528 đồng.

Trường hợp ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P không thanh toán được khoản tiền nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp

để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P vẫn phải tiếp tục trả nợ cho A cho đến khi các khoản nợ được tất toán. Ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải chịu án phí. Về chi phí thẩm định: Ngân hàng A đã nộp và sẽ tự giải quyết với ông H bà P, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Đinh Như H trình bày: Ông H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện kinh tế khó khăn, ông H chưa có đủ điều kiện để trả toàn bộ số tiền nợ nên ông H đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để gia đình ông H thanh toán dần khoản nợ, trường hợp phải phát mại tài sản thế chấp thì ông H đồng ý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Như H1 vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng N1:

  • + Buộc ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P phải thanh toán cho Ngân hàng các khoản nợ gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 tạm tính đến ngày 20/2/2025 là 9.213.069.250 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 6.713.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 2.182.021.722 đồng; nợ lãi quá hạn là 318.047.528 đồng.
  • + Kể từ ngày 21/2/2025, ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 ngày 01/11/2016 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Ngân hàng.
  • + Trường hợp ông H, bà P không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp số 8914/HĐTC-2016/NĐ67. Cụ thể là: Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS, công suất 829 HP, chiều dài lớn nhất 26,5m, chiều rộng lớn nhất 7,6m, chiều cao mạn 3,25m, số máy 6526, ký hiệu máy YANMAR-6AYM-WET đóng năm 2016

tại Hải Phòng và toàn bộ ngư lưới cụ, thiết bị khác phục vụ khai thác đánh bắt thủy sản đứng tên chủ tàu ông Đinh Như H.

  • + Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A thì ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P phải tiếp tục trả hết nợ gốc, lãi cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Về án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng A khởi kiện ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông bà phải thanh toán khoản tiền nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P và A. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P xuất cảnh ra nước ngoài, ông H đi về giữa Việt Nam và Hàn Quốc, bà P chưa có thông tin nhập cảnh về nước, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng chuyển thẩm quyền cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Đinh Thị P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Như H1 vắng mặt tại phiên toà không có lý do: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Đinh Thị P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Như H1.

- Về nội dung:

  1. [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải thanh toán các khoản nợ vay theo các hợp đồng đã ký kết:
  2. [3.1] Xét Hợp đồng được ký giữa A và ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P: Ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P và A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 2115-LAV-201600501 ngày 01/11/2016 để vay số tiền là 10.000.000.000 đồng (Bằng

chữ: Mười tỷ đồng). Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng: 01/11/2027. Mục đích vay là để thanh toán tiền đóng mới 01 tàu đánh cá nghề chụp vỏ gỗ công suất 829HP và lắp đặt các thiết bị phục vụ việc khai thác thủy hải sản xa bờ theo Hợp đồng đóng mới tàu cá số 54/HĐĐT-2016 ngày 18/9/2016 đã ký giữa ông Đinh Như H và Cơ sở đóng tàu của ông Đinh Khắc N. Lãi suất tại thời điểm cho vay: 7%/năm.

  1. [3.2] Việc ký hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện. Hình thức của các Hợp đồng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Mục đích, nội dung của Hợp đồng không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại các điều 121, 122, 124, 471, 472, 473, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010Do đó, Hợp đồng nêu trên có hiệu lực thực hiện đối với các bên.
  2. [3.3] Thực hiện hợp đồng, A đã giải ngân các khoản tiền cho vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, giấy đề nghị vay vốn theo các giấy nhận nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H bà P đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ theo như cam kết với A. Do đó, ngày 21 tháng 10 năm 2020, A ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ chưa thanh toán của Hợp đồng tín dụng do ông H bà P vi phạm hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù, A đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho ông H bà P thực hiện nghĩa vụ cho A nhưng ông H bà P không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Do đó, cần buộc ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải thanh toán cho A số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Cụ thể: Tổng số tiền là 9.213.069.250 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 6.713.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 2.182.021.722 đồng; nợ lãi quá hạn là 318.047.528 đồng.
  1. [4] Về yêu cầu phát mại tài sản đảm bảo: Ngày 02/11/2016, giữa A và ông Đinh Như H, bà Đinh Thị P có ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai để đảm bảo cho khoản vay nêu trên. Hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết và được công chứng tại Văn phòng C1, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực với các bên. Tài sản thế chấp là Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS, công suất 829 HP, chiều dài lớn nhất 26,50 m, chiều rộng lớn nhất 7,60 m, chiều cao mạn 3,25 m, đóng năm 2016 tại Hải Phòng. Giấy tờ tài sản thế chấp là: Giấy chứng nhận đăng ký tầu cá số 28-170, số đăng ký HP-90790-TS, vào số ĐKTCQG số 3 ngày 29/5/2017 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố H cấp ngày 29/5/2017 cho chủ tàu ông Đinh Như H;
  2. [4.1] Tại khoản 1.4 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp có quy định: “Bên B cam kết các tài sản được hình thành trong tương lai nêu trên là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp, chưa được dùng làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ ở bất cứ tổ

chức/ cá nhân nào khác, tài sản được phép giao dịch“. Tại khoản 4.1.1 Điều 4 quy định Bên A được xử lý tài sản trong trường hợp sau: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà Bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ“.

  1. [4.2] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 17/12/2024 thể hiện tàu cá trên mới thực hiện việc đăng kiểm theo Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá số 24172/HN/ĐKTC ngày 05/7/2024 tại trung tâm đăng kiểm tàu cá tại Chi cục Thủy sản T mang tên chủ tàu Đinh Như H. Ông H xác nhận chiếc tàu đánh cá là tài sản của ông H và bà P. Hiện nay tàu cá đang do anh Đinh Như H1 là con trai ông H bà P đang trực tiếp sử dụng để khai thác đánh bắt hải sản. Anh Đinh Như H1 cũng khẳng định tài sản trên là tài của ông H và bà P. Căn cứ phân tích nêu trên có đủ cơ sở xác định toàn bộ tài sản nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P. Trường hợp ông H bà P không thanh toán được nợ, căn cứ Hợp đồng thế chấp và căn cứ Điều 299 của Bộ luật Dân sự thì A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
  1. [5] Từ phân tích nêu trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A: Buộc ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải thanh toán cho A số tiền gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn đến thời điểm xét xử. Trường hợp ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P không thanh toán được khoản tiền nêu trên thì A có quyền đề nghị phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
  2. [6] Trường hợp việc xử lý các tài sản thế chấp không đủ trả số tiền còn nợ cho A thì ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải tiếp tục trả cho A số tiền còn thiếu cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp, số tiền thu được dùng để trả các khoản nợ còn thừa thì số tiền còn thừa đó được trả lại cho ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P.
  3. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  4. [8] Về chi phí thẩm định tại chỗ: Ngân hàng đã nộp chi phí thẩm định, Ngân hàng có quan điểm tự giải quyết với ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  5. [9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 121, 122, 124, 471, 472, 473, 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các điều 299, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 91, 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 11 và khoản 2 Điều 13 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc ngân hàng N3;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1:
    1. Buộc ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền nợ vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20 tháng 02 năm 2025 ) là: 9.213.069.250 (chín tỷ, hai trăm mười ba triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm năm mươi) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 6.713.000.000 (sáu tỷ, bảy trăm mười ba triệu) đồng; nợ lãi trong hạn 2.182.021.722 (hai tỷ, một trăm tám mươi hai triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, bảy trăm hai mươi hai) đồng; Nợ lãi quá hạn là 318.047.528 (ba trăm mười tám triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi tám) đồng.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
    3. Trong trường hợp ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P không trả được nợ thì A có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho nguyên đơn theo nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký kết là: Tàu cá vỏ gỗ số đăng ký HP-90790-TS, công suất 829 HP, chiều dài lớn nhất 26,50 m, chiều rộng lớn nhất 7,60 m, chiều cao mạn 3,25 m, đóng năm 2016 tại Hải Phòng theo Giấy chứng nhận đăng ký tầu cá số 28-170, số đăng ký HP-90790-TS, vào số ĐKTCQG số 3 ngày 29/5/2017 do Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Sở Nông nghiệp và P1 cấp ngày 29/5/2017 cho chủ tàu ông Đinh Như H.

Trường hợp việc xử lý các tài sản thế chấp không đủ trả số tiền còn nợ cho A thì ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải tiếp tục trả cho A số tiền còn thiếu cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp, số tiền thu được dùng để trả các khoản nợ còn thừa thì số tiền còn thừa đó được trả lại cho ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P.

  1. Về án phí:
    1. Ông Đinh Như H và bà Đinh Thị P phải chịu 117.213.069 (một trăm mười bảy triệu, hai trăm mười ba nghìn, không trăm sáu mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn trả A số tiền tạm ứng án phí là 58.287.000 (năm mươi tám triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009900 ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng.
  1. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
  2. Nguyên đơn Ngân hàng A, bị đơn ông Đinh Như H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn bà Đinh Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Như H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Chi Cục THADS TP Thủy Nguyên, TP Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thúy

Nguyễn Thị Luyến

Bùi Thị Thúy Hà

DANH SÁCH GỬI BƯU ĐIỆN

(Bản án DSST số 05/20.02.2025 - DSST A1 - H)

  1. Ngân hàng N1 chi nhánh N2, địa chỉ: Thôn T, Xã N, Huyện T, Hải Phòng;

Mã vận đơn: RD 18 259244 1 V

Người gửi

Trần Thị Thu Huệ

Xác nhận của bưu điện

DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI

(Bản án DSST số 05/20.02.2025 - DSST A1 - H)

  1. Anh Đinh Như H1, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn Lạch Sẽ, xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
  2. Niêm yết tại nhà và UB cho:

Ông Đinh Như H, sinh năm 1967 và bà Đinh Thị P, sinh năm 1964; cùng nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng

Người gửi: Thư ký Trần Thị Thu H2 - 0966287269

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger