Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP- NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Sơn

Bà Nguyễn Thị Hoan

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hươngương - Kiểm sát viên.Ngày 19/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T, sinh năm 1994, tại Thanh Hóa; giới tính: nam; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Văn N và con bà Bùi Thị M; vợ Bùi Thị L, có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2024 đến ngày 19/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến: anh Nguyễn Công B, sinh năm 1963, nơi cư trú: tổ B, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn T, sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, chiều ngày 13/12/2024 T bắt xe ô tô khách đi từ nhà đến khu vực đường N, thuộc tổ B, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma tuý để sử dụng. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày T đi vào ngõ A, đường N gặp 01 người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện nên đi đến hỏi người đàn ông có ma tuý heroin không bán cho T, người đàn ông bảo có, T đưa 200.000 đồng, người đàn ông đưa lại cho T 01 gói giấy bạc màu vàng, biết là ma túy nên T cầm trên tay trái và đi ra phía đầu ngõ để bắt xe về thì gặp tổ công tác Công an phường N, thành phố T đi đến phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên đến yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra T khai báo tên, tuổi, địa chỉ như trên. Tổ công tác hỏi T có sử dụng ma túy không, T khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu vàng đang cầm trên tay trái, đồng thời khai nhận bên trong gói giấy bạc màu vàng là ma túy heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác kiểm tra gói giấy bạc màu vàng do T giao nộp, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Bùi Văn T có khối lượng 0,20 gam ký hiệu QT01 gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 16/KL-KTHS-MT ngày 18/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu QT01 có khối lượng 0,1915 gam, là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSTPTĐ ngày 12/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

[1]. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 16 đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ từ ngày 13/12/2024.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

[2]. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,1400 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi gửi đi giám định, cùng toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu; 01 mảnh giấy màu vàng.

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy để sử dụng nên khoảng 18 giờ ngày 13/12/2024, bị cáo T đã bắt xe khách từ nhà đến thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Tại khu vực đường N, thuộc tổ B, phường N, thành phố T bị cáo mua của 01 người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 0,1915 gam ma túy, loại Heroine nhưng chưa kịp sử dụng thì khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày bị cáo bị tổ công tác Công an phường N, thành phố T phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với bản kết luận giám định số số 16/KL-KTH- MT ngày 18/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo có hành vi cất dấu 0,1915 gam, là ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a,...........

b,...........

c, Heroine, CocaineCocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;d, ............

2...Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.Hành vi nêu trên của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp...Nhận thức được hành vi mua bán ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện điều đó, chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. [2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; khi bị yêu cầu kiểm tra đã tự giác giao nộp ma túy, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt là phù hợp. [3]. Về hình phạt: từ sự phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. [4]. Về các vấn đề khác: [4.1] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Bùi Văn T, T khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực ngõ A, đường N, tổ B, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. [4.2] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Tuy nhiên, bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.[4.3]. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Đối với 0,1400 gam ma túy, loại Heroine vật chứng còn lại thu giữ của Bùi Văn T là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

- 01 Mảnh giấy bạc màu vàng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

    Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy 0,1400 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi gửi đi giám định, cùng toàn bộ phong bì niêm phong, vỏ gói ban đầu; 01 mảnh giấy màu vàng kích thước (4,9x3,7) cm.

    (Đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025 BL 106)

  3. Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh NB;
  • - VKSND Tp. Tam Điệp;
  • - THADS Tp. Tam Điệp;
  • - CA Tp. Tam Điệp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger