|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Khang
Bà Bùi Thị Kiểm
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thái Thị Thanh T; nơi cư trú: Xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Đức H; nơi cư trú: Số 20A6 tập thể Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 13 tháng 11 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Thái Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, chị Thái Thị Thanh T và anh Lê Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 06/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 7 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng ý kiến và quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan T đến nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị T đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về việc nuôi con: Chị T và anh H có 01 con chung là Lê Hạ V, sinh ngày 28/7/2021. Chị T đề nghị Tòa án giao con cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc chia tài sản: Chị T và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Đức H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi được lời khai của anh H và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn anh H. Về việc nuôi con, giao con là Lê Hạ V, sinh ngày 28/7/2021 cho chị T trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản, chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
[1] Chị Thái Thị Thanh T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
[2] Chị Thái Thị Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Lê Đức H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
[3] Chị Thái Thị Thanh T và anh Lê Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của chị T và anh H qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp. Chị T và anh H đã sống ly thân từ đầu tháng 7 năm 2022, không còn quan T đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về việc nuôi con:
[4] Chị Thái Thị Thanh T và anh Lê Đức H có 01 con chung là Lê Hạ V, sinh ngày 28/7/2021. Chị T đề nghị Tòa án giao cháu Lê Hạ V cho chị nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét cháu Vy hiện còn nhỏ, từ khi chị T và anh H ly thân, chị T là người trực tiếp nuôi và chăm sóc cháu Vy. Vì vậy, yêu cầu của chị Thái Thị Thanh T phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
+ Về việc chia tài sản:
[5] Chị Thái Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
[6] Chị Thái Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Đức H.
- Về việc nuôi con: Giao cháu Lê Hạ V, sinh ngày 28/7/2021 cho chị Thái Thị Thanh T trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Thái Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Thái Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Thái Thị Thanh T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003237 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Thái Thị Thanh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn chị Thái Thị Thanh T và bị đơn anh Lê Đức H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị T và anh H
