|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 19/02/2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và bà Dương Thị Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Bà Nguyễn Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 198/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 24/12/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn U, sinh năm 1981 - có mặt
Nơi cư trú: Xóm P, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Chị Dương Thị B, sinh năm 1982 - vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm P, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang tạm trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên,
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, lời khai tại Tòa án nguyên đơn là anh Hoàng Văn Ư trình bày: Anh với chị Dương Thị B tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 07/12/2007. Sau kết hôn vợ chồng đi thuê ở trọ ở thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để đi làm công nhân, năm 2015 thì anh chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ anh Ư sinh sống. Trong quá trình chung sống khi cháu lớn được 5 tuổi thì vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, chị B có quan hệ tình cảm với người khác, bất đồng quan điểm trong việc giáo dục các con. Gia đình hai bên đã khuyên can nhiều lần nhưng chị Ba K tiếp thu và vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Ư xin ly hôn với chị B để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Thảo N, sinh ngày 26/8/2008 và Hoàng Ngọc L, sinh ngày 06/12/2015. Sau khi ly hôn anh Ư có nguyện vọng nuôi cả hai con, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Anh Ư không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn là chị Dương Thị B: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với chị B là thông báo về việc thụ lý vụ án để chị B đến Tòa án viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng chị Ba K đến Tòa án, không hợp tác làm việc.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do chị B lấy lý do chị thường xuyên đi làm ca ngày tối mới về, không nghỉ làm để đến Tòa án giải quyết ly hôn được, Tòa án đã lập biên bản làm việc với chị Lưu Thị N1 là chủ nhà trọ nơi chị B đăng ký tạm trú, đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng cho chị B. Tại biên bản làm việc ngày 21/10/2024 chị N1 cung cấp thông tin như sau: Chị Dương Thị B, sinh năm 1982 thuê trọ nhà chị từ năm 2023 đến nay, có đăng ký tạm trú tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chị B đang làm công ty ở thành phố S, sáng đi, tối khoảng 7 đến 8 giờ mới về phòng trọ nên ban ngày không có ở nhà. Tòa án nhân dân huyện Phú Bình đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, bản tự khai. Chị đã giao lại các tài liệu đó cho chị B nhưng chị B bảo không viết, không trình bày ý kiến gì cho Tòa án. Việc vợ chồng chị B mâu thuẫn thế nào chị không biết, chị thấy chị B thuê trọ cùng con gái. Chồng chị B là anh Ư, trước có hay qua lại khu trọ nhưng nay đã ly thân.
Do chị B nhiều lần vắng mặt tại Tòa án không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, anh Ư giữ nguyên quan điểm xin ly hôn chị B và có nguyện vọng nuôi cả hai con, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung và khoản cho vay không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn Ư, cho anh Ư được ly hôn chị Dương Thị B.
Về con chung: Giao cho anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ư không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Ư, chị B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Không giải quyết bởi chị B vắng mặt và anh Ư không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Anh Hoàng Văn Ư phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn đăng ký tạm trú để ở tại xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- - Về sự có mặt của đương sự: Đối với bị đơn, chị Dương Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị B.
[2]. Về nội dung: Anh Hoàng Văn Ư và chị Dương Thị B kết hôn năm 2007 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc hai bên sống ly thân, anh U xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với chị B. Hội đồng xét xử xét thấy giữa anh Ư và chị B do quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Ư, cho anh được ly hôn với chị Dương Thị B là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quyền nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Thảo N, sinh ngày 26/8/2008 và Hoàng Ngọc L, sinh ngày 06/12/2015. Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa anh Ư trình bày hiện hai con đang ở với anh, anh có nơi ở và thu nhập ổn định từ chăn nuôi tại gia đình, hai cháu cũng có nguyện vọng ở với bố. Xét nên giao cho anh Ư trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thảo N và Hoàng Ngọc L là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ư không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Ư, chị B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Anh U xác định không có. Phía chị B vắng mặt tại phiên toà nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Ư phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Hoàng Văn Ư, cho anh Hoàng Văn Ư được ly hôn chị Dương Thị B.
- Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn Ư trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Hoàng Thảo N, sinh ngày 26/8/2008 và Hoàng Ngọc L, sinh ngày 06/12/2015 cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Ư không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quyền thăm nom con: Chị Dương Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Ư, chị B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn Ư phải chịu án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nộp sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ - Biên lai số 0003969 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử công khai, có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn. Báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HỒNG MÂY |
Bản án số 05/2025/HNGĐ - ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
