Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 19-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toán và ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông Phạm Trường Giang và bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần gồm có:

- Ông Đinh Quốc C - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Bà Đàm Thị T1 - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 với bị cáo:

Phạm Hồng P, sinh ngày 20/5/1988 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hồng N và bà Phí Thị H; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K từ ngày 24/9/2024 đến ngày 19/02/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: anh Phạm Văn T3, sinh năm 1979 - là chồng của chị T2.

Đều trú tại: khu dân cư A, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Đ.

Địa chỉ: số A, đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1978- Giám đốc công ty (Vắng mặt).

Những người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Hương G (Vắng mặt).

Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H hỗ trợ phiên toà: ông Nguyễn Trọng L, ông Thân Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hồng P (có giấy phép lái xe ô tô hạng FC số [...] do sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 02/8/2021, có giá trị đến ngày 02/8/2026) là lái xe hợp đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ. Sáng ngày 25/4/2024, theo điều động của công ty, sau khi trả hàng tại thành phố H, tỉnh Hải Dương xong, Phạm Hồng P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24, kéo rơ moóc biển số 15R-088.03 đi về bãi xe cảng H ở xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Khoảng 09 giờ 49 phút cùng ngày, P điều khiển xe đến Km 72+100 Quốc lộ E, chiều đường H - Hải Phòng thuộc địa phận thôn D, xã P (nay là thị trấn P), huyện K, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường một chiều xe chạy, nằm trong khu vực có cột đèn chớp vàng, trên có gắn dòng chữ “Chú ý quan sát”, mặt đường rộng 10,20 mét được trải nhựa bằng phẳng, chưa được kẻ vạch sơn phân chia các làn đường. Lúc này, P điều khiển xe đi với tốc độ kho ảng 46-52 km/h, cách mép đường bên phải khoảng một mét, trong tình trạng mệt mỏi và ngủ gật nên không chú ý quan sát các phương tiện phía trước tham gia giao thông, dẫn đến đèn xi nhan, ốp nhựa đèn xi nhan phía trước, đầu ba đờ xốc phía trước và ốp nhựa bậc lên xuống ca bin bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24 do P điều khiển va chạm vào phía sau ốp nhựa cốp sau bên trái xe máy điện biển số 34MĐ3-087.28 do chị Nguyễn Thị T2 điều khiển đi phía trước cùng chiều làm xe máy điện do chị T2 điều khiển bị đổ nghiêng trái và trượt rê trên mặt đường vào lề bên phải, chị T2 ngã theo xe, gần vị trí xe máy điện đổ. Lúc này, P nghe thấy tiếng va chạm ở phía trước bên phải đầu xe nên giật mình tỉnh ngủ, đánh lái sang bên trái và nhìn qua gương chiếu hậu thấy xe máy điện và chị T2 bị đổ ngã bên phải đường. P đạp phanh cho xe dừng lại và xuống xe nhờ người dân gọi xe cứu thương đưa chị T2 đi cấp cứu. Sau đó, P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24, kéo rơ moóc biển số 15R-088.03 đi về đỗ tại bãi xe cảng H rồi đi về nhà mình. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P đến Công an xã K, huyện K làm việc. Hậu quả: chị T2 bị thương được đưa đến Trung tâm y tế huyện K cấp cứu và được chuyển lên Bệnh viện H1; Bệnh viện B và Bệnh viện Q cấp cứu, điều trị từ ngày 25/4/2024 đến ngày 28/8/2024 thì ra viện.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 233/KLTTCT ngày 09/7/2024 của Trung tâm P2 đối với chị Nguyễn Thị T2 kết luận: Các kết quả chính: Chấn thương sọ não kín gây đụng dập nhu mô não thùy thái dương phải, hiện ổn định không để lại di chứng. Chấn thương ngực kín gây tràn khí - dịch khoang màng phổi phải, tràn dịch màng phổi trái, vỡ bờ dưới ổ chảo, gãy 1/3 giữa xương đòn phải, gãy phức tạp có di lệch cung sau xương sườn 11, 12 bên trái, cung bên và cung sau xương sườn 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 bên phải, hiện ổn định, để lại sẹo dẫn lưu vùng ngực phải ở khoang liên sườn 4, 5 đường nách giữa kích thước nhỏ. Chấn thương cột sống gây vỡ phức tạp thân đốt sống ngực D12, thắt lưng L1, hiện liệt hoàn toàn hai chi dưới, còn sonde tiểu, đại tiện không tự chủ, để lại sẹo mổ vùng giữa cột sống, mặt trước 1/3 giữa dưới xương đùi phải kích thước trung bình. Chấn thương gan độ III, gãy ngành trên và ngành dưới xương mu trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị T2 tại thời điểm giám định là 94%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, chị T2 bị tai nạn giao thông gây ra là phù hợp.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K ngày 21/8/2024 kết luận: Tổng giá trị thiệt hại phần bị hư hỏng của xe máy điện biển số 34MĐ3-087.28 là 1.005.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại phần bị hư hỏng của xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24 là 1.809.000 đồng.

Tại biên bản kiểm tra không có nồng độ cồn trong hơi thở của P. Test và xét nghiệm ma túy đối với P ngày 25/4/2024 cho kết quả dương tính với ma tuý loại Methamphetamine và MDMA.

Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 30/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Hồng P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo P từ 3 năm 1 tháng tù đến 3 năm 7 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/9/2024.

Hình phạt bổ sung: đề nghị cấm hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Tiếp tục quản lý giấy phép lái xe của bị cáo trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Hồng P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 49 phút ngày 25/4/2024, tại Km 72+100 Quốc lộ E, chiều đường H - Hải Phòng thuộc địa phận thôn D, xã P (nay là thị trấn P), huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Hồng P (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24, kéo rơ moóc biển số 15R-088.03 đi theo hướng Hà Nội - Hải Phòng trong tình trạng có sử dụng chất ma túy, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái nên phần đầu ba đờ xốc phía trước bên phải và phần bên phải đầu xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24 do P điều khiển va chạm vào phía sau ốp nhựa cốp sau bên trái xe máy điện biển số 34MĐ3-087.28 do chị Nguyễn Thị T2 điều khiển làm xe máy điện bị đổ, chị T2 ngã theo xe. Hậu quả: chị T2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 94%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ trong tình trạng có sử dụng ma túy, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái, đã vi phạm khoản 7 và khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã gây hậu quả làm 1 người bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 94% nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Để có căn cứ áp dụng hình phạt, HĐXX cần đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường 600 triệu đồng cho gia đình bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.3]. Trong thời gian gần đây, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn huyện K nói chung và trên đường Quốc lộ 5 nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp. Dù các cơ quan chức năng đã tìm mọi biện pháp nhằm hạn chế tai nạn giao thông nhưng số vụ tai nạn giao thông vẫn luôn ở mức cao và có chiều hướng gia tăng, gây mất an toàn cho người tham gia giao thông, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh trên địa bàn. Vì vậy, cần thiết phải buộc bị cáo Phong cách L1 khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3.4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hành nghề lái xe nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe ô tô sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và công ty TNHH Đ đã cùng bồi thường cho chị T2 số tiền là 600.000.000 đồng. Chị T2 đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường thêm. Công ty TNHH Đ không yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại do sửa chữa xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24. Vì vậy, HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự trong bản án này.

[5]. Về xử lý vật chứng: Do bị cáo bị cấm hành nghề lái xe và giấy phép lái xe này còn giá trị đến 02/8/2026 nên tiếp tục quản lý 1 giấy phép lái xe ô tô hạng FC của bị cáo P trong hồ sơ.

[6]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng P 3 (ba) năm 1 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/9/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo Phạm Hồng P hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 1 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
  4. Tiếp tục quản lý 1 giấy phép lái xe ô tô hạng FC của bị cáo P trong hồ sơ vụ án và trả lại cho bị cáo P sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

  5. Về án phí: bị cáo Phạm Hồng P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại có quyền kháng cáo bản án, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Kim Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại và đại diện theo ủy quyền;
  • - Bị đơn dân sự;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 9 giờ 49 phút ngày 25/4/2024, tại Km 72+100 Quốc lộ 5, chiều đường Hà Nội - Hải Phòng thuộc địa phận thôn D, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Hồng P (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24, kéo rơ moóc biển số 15R-088.03 đi theo hướng Hà Nội - Hải Phòng trong tình trạng có sử dụng chất ma túy, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái nên phần đầu ba đờ xốc phía trước bên phải và phần bên phải đầu xe ô tô đầu kéo biển số 15C-053.24 do P điều khiển va chạm vào phía sau ốp nhựa cốp sau bên trái xe máy điện biển số 34MĐ3-087.28 do chị Nguyễn Thị Th điều khiển làm xe máy điện bị đổ, chị Thngã theo xe. Hậu quả: chị Th bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 94%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger