|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2025 V/v tranh chấp về ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Nam Bình
- Ông Nguyễn Xuân Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Vũ Ngọc A, sinh năm: 1998.
Nơi cư trú: số nhà B, ngõ E, đường N, tổ A, phường T,, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tùng L, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: số nhà A, đường T, tổ E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Chị Ngọc A và anh L có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà: Nguyên đơn, chị Nguyễn Vũ Ngọc A trình bày: Chị và anh Nguyễn Tùng L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào ngày 03/4/2024. Sau khi kết hôn vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do thời gian tìm hiểu ngắn chưa hiểu hết về tình của nhau và chủ yếu qua điện thoại nên không hiểu kỹ về nhau đến khi sống chung giữa vợ chồng ngày càng có khoảng cách quá lớn trong suy nghĩ và trong mọi vấn đề phải xử lý trong cuộc sống nên hôn nhân ngày càng tẻ nhạt, làm cho cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng dẫn đến không còn tình cảm gì với nhau nữa. Đến ngày 15/12/2024 do thấy không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên chị Ngọc A đã về nhà mẹ đẻ ở tổ A phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình ở, anh L về nhà bố mẹ anh L ở. Thực tế từ ngày 15/12/2024 đến nay giữa hai vợ chồng như hai người xa lạ, sống tách biệt, cuộc sống của ai người đó tự lo cho mình. Đến nay chị thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
* Tại văn bản trình bày ý kiến ghi ngày 26/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà: Bị đơn, anh Nguyễn Tùng L trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn đúng như chị Ngọc A trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 15/12/2024 thì chị Ngọc A về nhà mẹ đẻ tại phường T ở không về chung sống cùng anh. Anh thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, quá trình chung sống anh có một vài lỗi với chị Ngọc A là chưa quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của chị Ngọc A. Việc chị Ngọc A trình bày vợ chồng như hai người xa lạ, sống tách biệt, cuộc sống của ai người đó tự lo cho mình là không đúng vì anh có nhiều lần đến nhà chị Ngọc A để tìm chị Ngọc A về vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Ngọc A cố tình tránh mặt anh và không về chung sống cùng anh. Đến nay anh vẫn còn tình cảm với chị Ngọc A nếu anh có lỗi gì anh hứa sẽ sửa chữa, thay đổi chị Ngọc A có đơn ly hôn quan điểm của anh là mong muốn Toà án hoà giải cho vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau.
Về con chung: Chị Ngọc A và anh L đều trình bày: Vợ chồng không có con chung không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Chị Ngọc A và anh L đều trình bày: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị không đi vay chung và không cho ai vay chung tài sản gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng là bà Vũ Thị Kim H ngày 14/01/2025 thể hiện: Bà Vũ Thị Kim H là mẹ đẻ của chị Ngọc A. Về thời gian, điều kiện kết hôn đúng như chị Ngọc A và anh L trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 15/12/2024 thì chị Ngọc A về nhà bà H ở không chung sống cùng anh L nữa. Vợ chồng bà H có hoà giải động viên chị Ngọc A nhưng chị Ngọc A kiên quyết không nghe và có trình bày là vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau về các vấn đề trong cuộc sống, chị Ngọc A không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa. Gia đình bà H hoà giải nhiều về vấn đề đoàn tụ nhưng chị Ngọc A vẫn không nghe. Nay chị Ngọc A có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án hoà giải cho anh chị về đoàn tụ nếu hoà giải không thành thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh L và chị Ngọc A không có con chung và không có tài sản chung.
* Tại biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T thể hiện: Chị Ngọc A và anh L có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương vào tháng 4 năm 2024. Sau khi cưới, vợ chồng vào miền N làm ăn sinh sống, đến giữa tháng 12 năm 2024 chị Ngọc A về nhà bố mẹ đẻ tại số nhà B, ngõ E, đường T, tổ A, phường T, thành phố T. Địa phương không thấy anh L về chung sống với chị Ngọc A. Đến nay, chị Ngọc A có đơn ly hôn, đề nghị Toà án hoà giải cho vợ chồng, nếu hoà giải không thành, đề nghị Toà án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật. Về con chung, chị Ngọc A và anh L không có con chung. Về tài sản chung của chị Ngọc A và anh L, địa phương không nắm được. Hai anh chị cũng không nợ các tổ chức tại địa phương.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Ngọc A được ly hôn anh L. Về con chung: Không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Án phí: Buộc chị Ngọc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, khởi kiện và có yêu cầu xin ly hôn do đó xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố T, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngọc A và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do thời gian tìm hiểu ngắn, chưa hiểu hết về tính tình của nhau nên khi về sống chung có nhiều bất đồng về quan điểm, cách suy nghĩ và cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Anh chị đã sống ly thân nhau từ ngày 15/12/2024 đến nay, mỗi người ở một nơi. Toà án và gia đình cũng đã hoà giải, khuyên bảo nhưng vợ chồng vẫn không đoàn tụ được. Xét thấy hôn nhân giữa chị Ngọc A và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngọc A, cho chị Ngọc A được ly hôn anh L.
[3] Về con chung: Chị Ngọc A và anh L không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản và nợ chung: Chị Ngọc A và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị không đi vay chung và không cho ai vay chung tài sản gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: chị Ngọc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Vũ Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Tùng L.
- 2. Về con chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
- 3. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Vũ Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000891 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; chị Nguyễn Vũ Ngọc A đã nộp đủ án phí.
- 5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Vũ Ngọc A và anh Nguyễn Tùng L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/02/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Vũ Ngọc A ly hôn anh Nguyễn Tùng L
