TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 18/02/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Bà Cáp Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Vân Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn D - sinh năm 1996
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn P, sinh năm 1973; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1978;Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 2005; Con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Không;
- Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 1204/QĐ-XPHC ngày 10/4/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt Nguyễn Văn D số tiền 12.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ súng săn, chi tiết, cụm chi tiết súng săn” (thi hành quyết định ngày 11/4/2024).
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.(có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số E N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; nơi cư trú: số G đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 5/2024, H1 sử dụng điện thoại di động Oppo có lắp sim số thuê bao 0339.678.242 truy cập mạng xã hội Youtube với mục đích tìm và mua súng hơi khí nén để bắn chim. H1 tìm thấy kênh ghi “PCP Hùng Dũng”, đường dẫn là http://www.youtube.com/@HungDung68đăng các video giới thiệu quảng cáo bán súng PCP (súng hơi khí nén) thì H1 gọi đến số điện thoại gắn trên kênh là 0336.659.962 cho người bán là Nguyễn Văn D, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T nghe máy. Sau đó, H1 kết bạn với tài khoản Zalo của D được đăng ký bằng số điện thoại 0336.659.xxx, có tên tài khoản Zalo “Hùng PCP" và nhắn tin hỏi mua súng hơi khí nén của D qua Z thì D đồng ý. D trao đổi, thỏa thuận bán 01 khẩu súng hơi khí nén PCP cho H1 với giá 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng), lắp thêm một đèn lade với giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), thống nhất hình thức giao dịch thanh toán là chuyển khoản ngân hàng và chuyển hàng qua xe khách, D thông báo với H1 tiền cước gửi xe là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), tổng số tiền là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, D chỉ lấy 10.700.000 đồng (Mười triệu bẩy trăm nghìn đồng) và tặng cho H1 02 hộp đạn chì. Ngày 17/5/2024, H1 ra cửa hàng tạp hóa nhờ chủ cửa hàng là anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1975, trú tại phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang sử dụng số tài khoản 0731000658998 thuộc ngân hàng V chuyển số tiền 7.700.000 đồng (Bẩy triệu bẩy trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 1015652927 của D, nội dung chuyển khoản ghi “ck mua condor”, nghĩa là “Chuyển khoản mua súng condor". Sau khi chuyển khoản xong, H1 chụp ảnh lại giao dịch và gửi hình ảnh chuyển khoản qua Z cho D và bảo D lắp ráp súng cho H1. Ngày 20/5/2024, D thông báo cho H1 chuyển nốt số tiền mua bán súng để D lắp ráp và gửi xe cho H1. Sau đó, H1 đi ra cửa hàng bán điện thoại của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995, trú tại số G đường N, phường N, thành phố B nhờ chuyển số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đến số tài khoản 1015652927 của D, nội dung chuyển khoản “anh truong mua xe”. Sau khi nhận được tiền, do sợ bị phát hiện hành vi bán súng vì trước đó ghi nội dung chuyển khoản thể hiện việc mua bán súng nên D nói với H1 là sẽ chuyển lại 7.700.000 đồng vào số tài khoản 0731000658998 của Nguyễn Văn N và bảo H1 chuyển lại số tiền này cho D. Sau đó D chuyển số tiền 7.700.000 đồng vào tài khoản của anh N thì H1 tiếp tục nhờ anh N chuyển khoản lại số tiền 7.700.000 đồng đến tài khoản 1015652927 của D với nội dung ghi “anh truong mua xe". Khoảng 02 ngày sau khi chuyển tiền, H1 nhận được điện thoại của một người xưng là nhà xe thông báo H1 có một kiện hàng, hẹn H1 nhận hàng ở thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sáng ngày 08/8/2024, H1 cầm khẩu súng mua của D đi đến thị trấn C, huyện T để bắn chim thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Ngày 08/8/2024, Công an huyện T tiến hành triệu tập làm việc với Nguyễn Văn D nhưng D không thừa nhận hành vi bán súng hơi cho H1. Công an huyện T đã tiến hành ghi âm giọng nói của D và Nguyễn Văn H1 để trưng cầu giám định.
Ngày 20/8/2024, Công an huyện T tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn H1, kết quả: Tại mục ứng dụng ảnh ghi nhận có 12 ảnh thể hiện các nội dung liên quan đến việc nhắn tin trao đổi mua bán súng; 01 ảnh chụp nội dung chuyển tiền qua ngân hàng; Tại ứng dụng danh bạ có lưu 01 số điện thoại "0336.659.xxx" tên "Hùng PCP"; Tại mục lịch sử cuộc gọi có phát sinh cuộc gọi đi và đến với số điện thoại "0336.659.xxx" tên "Hùng PCP"; Tại mục tin nhắn có 01 tin nhắn thể hiện nội dung gửi hàng; Tại mục ghi âm, phát hiện 11 bản ghi âm thể hiện nội dung trao đổi mua bán súng đã sao lưu ra đĩa CDC và niêm phong theo quy định (bút lục 150-169).
Tại Kết luận giám định số 1904/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) vật hình dạng khẩu súng gửi giám định là súng hơi, thuộc loại súng săn, cỡ nòng 5,5mm, không thuộc vũ khí quân dụng; Hiện còn sử dụng để bắn được; 150 (một trăm năm mươi) viên kim loại gửi giám định là đạn chì cỡ 5,5mm, thường được sử dụng cho loại súng hơi, cỡ nòng 5,5mm, không thuộc vũ khí quân dụng.
Tại Kết luận giám định số 7243/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của V1 Bộ C, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm thanh trong các file âm thanh gửi giám định. Tiếng nói của người đàn ông tự xưng là anh"và được gọi là anh"trong các file ghi âm mẫu cần giám định được ký hiệu là Hưng" trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Văn H1 trong mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của người đàn ông tự xưng là ềm"và được gọi là ëm"trong các file ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Văn D trong mẫu so sánh là của cùng một người.
Ngày 28/8/2024, Ngân hàng TMCP N1 Chi nhánh B có Công văn số 1770/BGI-KT trả lời đối với số tài khoản 1015651927 mang tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 05/9/1996, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T. Sao kê giao dịch tài khoản khách hàng xác định: Ngày 17/5/2024, số tài khoản 0731000658998 chuyển đến số tài khoản 1015651927 số tiền 7.700.000 đồng, nội dung chuyển khoản "ck mua condor"; Ngày 20/5/2024, số tài khoản 1015651927 nhận số tiền 3.000.000 đồng. Cùng ngày 20/5/2024, số tài khoản 1015651927 chuyển đến số tài khoản 0731000658998 số tiền 7.700.000 đồng. Sau đó, số tài khoản 0731000658998 chuyển đến số tài khoản 1015651927 số tiền 7.700.000 đồng, nội dung chuyển khoản "a truong mua xe".
Ngày 11/11/2024, Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh B có Công văn số 2219/BGI-KT cung cấp thông tin chủ tài khoản và sao kê tài khoản số 0731000658998. Kết quả thông tin chủ tài khoản: Tên tài khoản Nguyễn Văn N; địa chỉ số E N, thành phố B. Kết quả sao kê tài khoản: Ngày 17/5/2024, số tài khoản 0731000658998 chuyển đến số tài khoản 1015651927 số tiền 7.700.000 đồng, nội dung chuyển khoản "ck mua condor". Ngày 20/5/2024, số tài khoản 0731000658998 nhận số tiền 7.700.000 đồng từ số tài khoản 1015651927 chuyển đến, nội dung "Nguyen Van D1 chuyen tien". Sau đó, số tài khoản 0731000658998 chuyển số tiền 7.700.000 đồng đến số tài khoản 1015651927, nội dung "a truong mua xe". Thông tin tài khoản đối ứng với tài khoản 1015651927 liên quan đến chứng từ 5189.53832 như sau: Họ tên Nguyễn Thị M; Số tài khoản 106880750719; Ngân hàng Đ.
Ngày 15/11/2024 và ngày 10/01/2025, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn H1, Đỗ Văn H2 và Nguyễn Văn D nhận dạng khẩu súng săn mà H1 đã mua của Nguyễn Văn D ngày 17/5/2024. Kết quả, H1, H2 và D đều nhận dạng được khẩu súng trên. Ngày 19/11/2024, Nguyễn Văn D bị bắt tạm giam. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét tại nhà của Nguyễn Văn D thu giữ 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, ốp lưng màu cam, Imeil: 3567251188424003, Imei 2: 356725117547887, lắp sim số 0335009999, trên sim có dãy số 8984048000935529908, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 bảng nhựa một mặt trắng, mặt còn lại có các chữ số “LONG HẢI PCP 9 ĐT 0972.290.xxx ZALO 0862” phần số còn lại dán băng dính màu đen.
Tại Cáo trạng số: 14/CT- VKS, ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép súng săn” theo quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 306; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù về tội “Mua bán trái phép súng săn”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Văn D. Phạt bổ sung Nguyễn Văn D số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn D, sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ súng săn, chi tiết, cụm chi tiết súng săn chưa được xóa tiền sự. Ngày 17/5/2024, Nguyễn Văn D sử dụng tài khoản Zalo “Hùng PCP" thỏa thuận bán 01 khẩu súng hơi khí nén PCP (súng săn) cho Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố G, phường D, thành phố B với giá 10.700.000 đồng (Mười triệu bảy trăm nghìn đồng) và tặng thêm 02 hộp đạn chì. D gửi súng và đạn cho H1 qua xe khách, H1 đã chuyển khoản trả hết tiền cho D. Sáng ngày 08/8/2024, H1 cầm khẩu súng mua của D đi đến thị trấn C, huyện T để bắn chim thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ súng và đạn. D hưởng lợi 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) từ việc bán súng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính và ý thức được hành vi mua bán trái phép súng săn bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do muốn thu lời bất chính từ việc mua bán súng săn nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý vật liệu nổ của Nhà nước, xâm phạm đến an toàn công cộng. Như vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép súng săn” theo quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01 ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 về án treo, do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo với đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và tạo cơ hội cho bị cáo ÙngHusửa chữa, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P2 như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên là có căn cứ. Do bị cáo D không bị tạm giam về một tội phạm khác nên cần tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 328 bộ luật tố tụng hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo để nộp Ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 306 của Bộ luật hình sự.
[5] Trong vụ án, Nguyễn Văn H1 mua súng săn của Nguyễn Văn D để sử dụng. Qua xác minh, H1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ, vân chuyển, sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ. Hành vi của H1 không cấu thành tội phạm, ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra chuyển tài liệu đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là có căn cứ.
Đối với anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị M đã giúp Nguyễn Văn H3 chuyển khoản cho Nguyễn Văn D để mua súng săn là chuyển hộ, anh N và chị M không biết mục đích H3 chuyển khoản để mua súng săn nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với việc Nguyễn Văn D mua các linh kiện để lắp ráp súng săn để bán. D khai đặt mua trên Youtube nhưng do thời gian đã lâu, D không nhớ tên kênh nào nên không xác định được đối tượng đã bán linh kiện cho D. Sau khi đặt mua, nhân viên giao hàng giao cho D tại nhà M, xã S. D trả tiền trực tiếp cho nhân viên giao hàng số tiền 8.900.000 đồng. D không biết người giao hàng là ai, không nhớ đặc điểm người giao hàng nên không có căn cứ để xác minh. Đối với xe khách mà D gửi kiện hàng bán súng săn cho H3, D không nhớ biển kiểm soát nên không có căn cứ xác minh. Ông Nguyễn Văn P1 không biết việc D mượn xe mô tô để chở súng và đạn nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
6. Về xử lý vật chứng :
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu tím, máy cũ đã qua sử dụng, Imeil: 861438055106231; Imei2: 861438055106223, lắp một sim điện thoại V2 có in dãy số “8984048000905886975” trên vỏ sim là điện thoại và sim của Nguyễn Văn H1 để liên lạc mua súng của Nguyễn Văn D2 nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- + Đối với số tiền 1.800.000 đồng (là tiền được hưởng lợi từ việc bán súng) nên truy thu của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 (một) khẩu súng săn chiều dài 1,05m, có gắn bình hơi khí nén và van điều áp màu trắng, có gắn 02 đồng hồ đo áp suất có chữ cricket, phía trước có gắn ống giảm thanh màu đen, có chữ "Airforce", trên thân có gắn ống ngắm màu đen, phần báng súng bằng gỗ màu nâu và 01 (một) hộp nhựa màu vàng, bên trong có chứa 150 viên đạn chì màu xám có đặc điểm tương tự nhau, một đầu hình nấm, một đầu hình bán cầu lõm là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu huỷ (Hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng của Công an huyện T).
- + Đối với 01 (một) bảng nhựa một mặt màu trắng, mặt còn lại có các chữ, số “LONG HẢI PCP9 DT 0972290119 ZALO 0862” phần số còn lại dán băng dính màu đen không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ:
- + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax ốp lưng màu cam, Imei: 356725118424003; Imei2: 356725117547887, lắp sim số 0335.009.999, trên sim có dãy số “8984048000935529908” không liên quan đến vụ án, bị cáo đề nghị trả lại nên cần trả lại cho bị cáo D2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các điều luật áp dụng tội danh và hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 306; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 08 (tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép súng săn”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
- - Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Văn D.
theo quy định tại khoản 4 Điều 328 bộ luật tố tụng hình sự.
- Phạt bổ sung Nguyễn Văn D số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu tím, máy cũ đã qua sử dụng, Imeil: 861438055106231; Imei2: 861438055106223, lắp một sim điện thoại V2 có in dãy số “8984048000905886975” trên vỏ sim là điện thoại và sim của Nguyễn Văn H1 để liên lạc mua súng của Nguyễn Văn D.
- - Truy thu đối với Nguyễn Văn D số tiền 1.800.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) khẩu súng săn chiều dài 1,05m, có gắn bình hơi khí nén và van điều áp màu trắng, có gắn 02 đồng hồ đo áp suất có chữ cricket, phía trước có gắn ống giảm thanh màu đen, có chữ "Airforce", trên thân có gắn ống ngắm màu đen, phần báng súng bằng gỗ màu nâu và 01 (một) hộp nhựa màu vàng, bên trong có chứa 150 viên đạn chì màu xám có đặc điểm tương tự nhau, một đầu hình nấm, một đầu hình bán cầu lõm (Hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng của Công an huyện T) và 01 (một) bảng nhựa một mặt màu trắng, mặt còn lại có các chữ, số “LONG HẢI PCP9 DT 0972290119 ZALO 0862” phần số còn lại dán băng dính màu đen.
- + Trả lại cho Nguyễn Văn D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax ốp lưng màu cam, Imei 356725118424003; Imei2: 356725117547887, lắp sim số 0335.009.999, trên sim có dãy số “8984048000935529908” nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ
Nơi nhận:
- - Bị cáo; người có quyền lợi NVLQ;
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang;
- - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang;
- - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên;
- - CQĐT, CQTHAHS Công an huyện Tân Yên;
- - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- - UBND xã, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Quốc Sửu Cáp Thị Quyên | Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép súng săn
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép súng săn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Dũng
