|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 18/02/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Diện
Bà Nguyễn Thị Gấm
Thư ký phiên toà: Ông Cao Văn Thuận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thuật - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lý Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 17 tháng 12 năm 1992 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1; có vợ là Lương Thị T2 (đã ly hôn), có 01 con; Tiền án: Không, tiền sự: Không, nhân thân: Ngày 18/12/2008 bị phòng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo; ngày 26/10/2016 bị Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền – ngày 31/10/2016 nộp phạt; ngày 19/12/2018 bị Ủy ban nhân dân xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng; ngày 15/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng – ngày 24/11/2021 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lý Văn N – Sinh năm 1956. Vắng mặt
- + Bà Hoàng Thị T1 – Sinh năm 1954. Vắng mặt
Cùng HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- + Chị Đỗ Thị H – Sinh năm 1972. Vắng mặt
HKTT và chỗ ở hiện nay: T, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 04/9/2024, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B làm nhiệm vụ tại khu vực thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện 01 (một) đối tượng đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, BKS 97B1-016.62, có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu đối tượng dừng xe để kiểm tra, sau khi dừng xe kiểm tra đối tượng khai nhận họ tên là Lý Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của T đang mặc 88.000đ (tám mươi tám nghìn đồng), thu tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím, mặt sau có dòng chữ “VIVO”; thu tại túi quần phía sau bên trái T đang mặc số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), thu tại mũ áo chống nắng màu xanh mà T đang mặc 01 (một) gói nhỏ được gói bằng mảnh túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 (một) túi được gói bằng mảnh giấy hai mặt màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng nghi vấn là ma túy, thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen BKS 97B1-016.62, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 02 (hai) chìa khóa xe mô tô.
Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B cân xác định khối lượng 01 (một) gói nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn T, xác định: Tổng khối lượng số chất màu trắng có trong 01 (một) gói nhỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T3” nêu trên là 0,148g (không phẩy một bốn tám gam). Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Văn T, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,148g (không phẩy một bốn tám gam).
Quá trình điều tra và truy tố, Lý Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 97B1-016.62 từ nhà tại thôn N, xã P, huyện B đi xuống thành phố B để ăn cưới. Khi đi đến đoạn ngã ba đường thuộc xã M, huyện B, T có gặp một người thanh niên nam giới (không biết tên tuổi, địa chỉ) có biểu hiện là người sử dụng ma túy nên dừng lại hỏi “có không, lấy một trăm” ý là có ma túy không bán cho T 100.000đ (một trăm nghìn đồng) thì người thanh niên này đồng ý, T đưa tiền người này cầm tiền và đi khoảng năm phút sau quay lại đưa cho T 01 (một) gói nhỏ được gói trong mảnh giấy màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng là ma túy, loại heroin. T nhận lấy và cầm ở tay điều khiển xe mô tô rồi đi tiếp. Khi đi đến đoạn đường Q thuộc thôn N, xã C, huyện B do trời nóng, nên T điều khiển xe đi qua đường chợ C1 vào thôn N, xã N, huyện B rồi sử dụng một ít ma túy trong gói trên. Sau đó, Tuyên gói lại như ban đầu và cất gói ma tuý vào trong mũ áo chống nắng điều khiển xe mô tô đi theo con đường cũ để đi ra Quốc lộ C. Khi đi đến khu vực chợ C2 thì bị Tổ công tác Công an huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng, tài sản tạm giữ trong vụ án, gồm:
- - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím, mặt sau có dòng chữ VIVO, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 (một) sim của nhà mạng VIETTEL, có số thuê bao 0979300415.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62 cùng 02 (hai) chìa khoá xe.
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 014486 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 01662.
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T3, bên trong có 0,148g (không phẩy một bốn tám gam) ma túy, loại Heroine.
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T4” bên trong có số tiền 588.000đ (năm trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Cáo trạng số: 39/CT-VKSBT ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Lý Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H trình bày: Năm 2011, chị H có sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 016.62, nhãn hiệu YAMAHA, đăng ký xe mang tên Đỗ Thị H. Khoảng năm 2022, chị H đã bán chiếc xe trên cho ông Lý Văn N ở xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, khi bán xe có làm giấy tờ. Do chị H đã bán chiếc xe mô tô trên cho ông N, nên chị H không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô chị H đã bán.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn N trình bày: Năm 2022, ông N có mua 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 016.62, nhãn hiệu YAMAHA, đăng ký xe mang tên Đỗ Thị H của chị Đỗ Thị H ở thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi mua có làm giấy tờ mua bán nhưng hiện nay đã bị thất lạc, không tìm thấy. Tiền mua xe là của ông N và bà Hoàng Thị T1, Lý Văn T không góp tiền để mua xe. Ngày 04/9/2024, ông N và bà T1 có cho con trai là Lý Văn T mượn xe đi ăn cưới, ông N không biết Lý Văn T sử dụng xe mô tô đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Ông N đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông trả lại xe mô tô cùng với giấy đăng ký xe và chìa khóa xe cho ông N và bà T1. Ngoài ra, ông N không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Theo biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 trình bày: Năm 2022, ông Lý Văn N (chồng bà T1) có mua 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 016.62, nhãn hiệu YAMAHA, đăng ký xe mang tên Đỗ Thị H của chị Đỗ Thị H ở thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi mua có làm giấy tờ mua bán nhưng hiện nay đã bị thất lạc, không tìm thấy. Tiền mua xe là của bà Hoàng Thị T1 và ông Lý Văn N, Lý Văn T không góp tiền để mua xe. Ngày 04/9/2024, bà T1 và ông N cho con trai là Lý Văn T mượn xe đi ăn cưới, bà T1 không biết Lý Văn T sử dụng xe mô tô đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Bà T1 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông trả lại xe mô tô cùng với giấy đăng ký xe và chìa khóa xe cho bà T1 và ông N. Đối với số tiền bà T1 đã cho Lý Văn T để đi mừng cưới và chi tiêu dọc đường bà T1 không yêu cầu T phải trả lại cho bà T1 vì bà T1 đã cho T nên T có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số tiền trên. Ngoài ra, bà T1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Lý Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 016.62, nhãn hiệu YAMAHA, đăng ký xe mang tên Đỗ Thị H bị cáo T mượn của ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1, việc bị cáo sử dụng xe để đi mua và tàng trữ ma tuý ông N và bà T1 không biết nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô lại cho ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1. Bị cáo xin Hội đồng xét xử (HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Lý Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lý Văn T từ 15 (mười lăm ) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật HìnhĐiều 106 của Bộ luật Tốtụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T189, bên trong có 0,113g (không phẩy một một ba gam) ma túy, loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ Cơ quan giám định hoàn trả lại, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh túi nilon màu trắng, 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu T3, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T4” và 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu ĐT.
- + Trả lại cho ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62, số khung C630BY445023, số máy 5C63445076 cùng 02 (hai) chìa khoá xe cũ đã qua sử dụng. Số lượng: 1 chiếc, đặc điểm: Không có gương chiếu hậu bên phải, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 014486 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 01662. Số lượng 1 chiếc, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo Lý Văn T: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím, mặt sau có dòng chữ VIVO, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 (một) sim của nhà mạng VIETTEL số thuê bao 0979.300.xxx và 588.000đ (năm trăm tám mươi tám nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H, ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không ai đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của chị H, ông N và bà T1 trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc chị H, ông N và bà T1 vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 10 phút ngày 04/9/2024, tại khu vực thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Lý Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói nhỏ ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,148g, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
[3]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Xét thấy Cáo trạng số 39/CT-VKSBT ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Lý Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, về xử lí vật chứng, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 về việc trả lại xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 014486 và 02 (hai) chìa khoá xe cho ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 đối với số tiền bà T1 cho Lý Văn T để đi mừng cưới và chi tiêu dọc đường bà T1 không yêu cầu T phải trả lại cho bà T1 vì bà T1 đã cho T là tự nguyện và đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.
Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H: Khoảng năm 2022, chị H đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62 cho ông Lý Văn N ở xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Do chị H đã bán chiếc xe mô tô trên nên chị H không có yêu cầu, đề nghị đối với chiếc xe mô tô chị H đã bán là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 18/12/2008 bị phòng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 26/10/2016 bị Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, ngày 19/12/2018 bị Ủy ban nhân dân xã P áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, ngày 15/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc).
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 (một) tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T189, bên trong có 0,113g (không phẩy một một ba gam) ma túy, loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ Cơ quan giám định hoàn trả lại, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh túi nilon màu trắng, 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu T3, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T4” và 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu ĐT là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62 cùng 02 (hai) chìa khoá xe; giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đỗ Thị H là công cụ, phương tiện phục vụ cho quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62 do ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 quản lí, sử dụng từ năm 2022 đến nay, không có tranh chấp với ai, không có trong cơ sở dữ liệu xe máy tang vật. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận lời trình bày của bị cáo T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 là có căn cứ, có cơ sở để xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1, việc bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy ông N, bà T1 không biết. Ông N và bà T1 xin HĐXX trả lại chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại là đúng quy định pháp luật và thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Do đó, HĐXX xét thấy cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím, mặt sau có dòng chữ VIVO, cũ đã qua sử dụng, bên trong có 01 (một) sim của nhà mạng VIETTEL, có số thuê bao 0979300415. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đề nghị được nhận lại, do đó cần trả lại cho bị cáo.
- - Đối với số tiền 588.000đ (năm trăm tám mươi tám nghìn đồng) thu giữ trên người bị cáo T. Quá trình điều tra, xác định đây là tiền mẹ của bị cáo là bà Hoàng Thị T1 cho bị cáo đi ăn cưới và chi tiêu dọc đường, bà T1 không yêu cầu bị cáo T phải trả lại, số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; do đó, cần trả lại cho bị cáo.
[7]. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T vào ngày 04/9/2024 tại khu vực ngã ba đường thuộc xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này và cũng không quen biết, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.
[8]. Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Lý Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/9/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án (thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T189, bên trong có 0,113g (không phẩy một một ba gam) ma túy, loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ Cơ quan giám định hoàn trả lại, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong có 01 (một) mảnh túi nilon màu trắng, 01 (một) mảnh giấy hai mặt màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu T3, số lượng: 01 (một) chiếc, tình trạng: Niêm phong; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T4” và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu ĐT
- + Trả lại cho ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 016.62, số khung C630BY445023, số máy 5C63445076 cùng 02 (hai) chìa khoá xe cũ đã qua sử dụng. Số lượng: 1 chiếc, đặc điểm: Không có gương chiếu hậu bên phải, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 014486 của xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 01662. Số lượng 1 chiếc, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng.
- + Trả lại cho bị cáo Lý Văn T: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu tím, mặt sau có dòng chữ VIVO, cũ đã qua sử dụng, số lượng 01 (một) chiếc, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng, trong điện thoại có gắn 01 (một) sim của nhà mạng VIETTEL số thuê bao 0979.300.xxx và 588.000đ (năm trăm tám mươi tám nghìn đồng).
(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2024 giữa Công an huyện B với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H, ông Lý Văn N và bà Hoàng Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Hương Thành |
9
10
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lý Văn Tuyên phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lý Văn Tuyên 15 (mười lăm) tháng tù.
