|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày: 17 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Hải
- Bà Trần Thị Chiếm
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở thành phố T, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Trương Văn D; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh năm 1996 tại Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số Cấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Trương Văn M, sinh năm 1970; con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980; vợ: Phạm Thị Như Q1, sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 01/11/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Đỗ Thanh T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1994 tại Tiền Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông: Đỗ Văn H, sinh năm 1970; con bà: Lê Thị B (chết); vợ: Trần Thị Tiểu L, sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/01/2013, UBND huyện T, tỉnh Tiền Giang ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 04/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã chấp hành xong); bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 31/10/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2
- Phạm Hồng T1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1992 tại Tiền Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Phạm Văn Y, sinh năm 1963; con bà: Bùi Thị Đ, sinh năm 1962; vợ: Trần Thị Anh Đ1, sinh năm 1990; con: Phạm Trần Gia H1, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 31/10/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Trần Hữu G; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1999 tại Tiền Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Trần Văn P, sinh năm 1960; con bà: Huỳnh Lệ C, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 03/01/2025 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm: 1978 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Phạm Thành Ú (Út V), sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. - Ông Nguyễn Thanh C1 (L1), sinh năm 1973 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Long An. - Anh Lê Minh T2, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Địa chỉ: số D A, ấp X, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2001 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Đinh Phước Đ3, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, Long An. - Anh Phạm Trường G1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Bùi Thị N, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp R, xã L, thành phố T, tỉnh Long An.
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Trúc L2, ông Lê Văn Đ4, chị Trần Thị Thu H2, anh Đoàn Ngọc T4, chị Đỗ Thị Kim H3, chị Bùi Thị N, anh Phó Minh Q2, anh Phạm Tuấn V1 (vắng mặt).
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 ngày 29/7/2023, ông Nguyễn Văn Đ2 sinh năm 1978, chỗ ở: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang điều khiển xe mô tô biển số 63B8 - 645.30 đi đến cầu vượt S, thuộc xã L, thành phố T, ông Đ2 bị 02 thanh niên đi trên xe Sirius đuổi theo đánh, ông Đ2 hoảng sợ bỏ xe chạy bộ đến khu vực đường C thì gặp con rể tên Nguyễn Thanh T3 đang cắt cỏ, ông Đ2 nói cho T3 nghe việc mình bị đuổi đánh, T3 điện thoại gặp Trương Văn D và nhờ D đến giải quyết việc ông Đ2 bị đánh. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô (không biển số) chở ông Đ2 đến cổng sau Cụm C. Lúc này, Nguyễn Văn K (là con trai ông Đ2) điều khiển xe mô tô không biển số đến Cầu vượt số 7 thấy xe mô tô của ông Đ2 bỏ trên đường, K điều khiển xe trở lại cổng sau Cụm C thì gặp T3 và ông Đ2.
Khi Nguyễn Thanh T3 điện thoại gặp Trương Văn D, thì D đang ngồi uống bia cùng với Đỗ Minh T5 và Đặng Minh S tại nhà Phạm Thành Ú (Ú), sinh năm 1991 ở ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Dọn kêu T5 và S đến thành phố T giải quyết việc Nguyễn Thanh T3 nhờ, T5 và S đồng ý. Sau đó, D thêu xe taxi do anh Phạm Tuấn V1 điều khiển chở T5 và S đến cổng sau Cụm C rước ông Đ2, T3 và K. Sau đó, cả nhóm đến nhà Nguyễn Thanh C1 (L1), địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Long An tìm C1, để hỏi C1 sao kêu người đánh ông Đ2 nhưng C1 không có ở nhà, em C1 tên Nguyễn Thanh B1 điện thoại gặp C1 và C1 nói “cần gì thì đến quán thịt cầy Chín L3 2 giải quyết”, rồi cả nhóm lên xe anh V1 chở đến quán C5, địa chỉ: ấp R, xã L, thành phố T, tỉnh Long An, là khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày. Lúc này, nhóm của Phạm Trường G1, gồm: G1, Phó Minh Q2, Đinh Phước Đ3 (Ố), Lê Minh T2 (K1), Nguyễn Thanh C1 (L1), Nguyễn Vương T6 và 01 nam thanh niên tên T7 (chưa rõ nhân thân) đang ngồi uống bia tại bàn số 3. Đến quán thịt cầy C, T5, S, T3, K xuống xe, T5 đi vào quán gặp L1 nói chuyện về việc mâu thuẫn giữa ông Đ2 và C1, sau đó xảy ra tranh cãi với T7 và C1, G1 đi đến bênh vực T7 và C1, G1 lấy con dao Thái Lan trong người ra đâm vào người T5, T5 dùng tay trái chụp dao nên bị thương tích ở ngón tay cái. Sau đó, T5 và S đi bộ về hướng Cụm C thì gặp Trần Hữu G, G chở T5 và S về nhà Út V băng bó vết thương cho T5. Lúc này, Trương Văn D đang ngồi nhậu cùng với Út V, thấy T5 bị thương ở bàn tay trái, D hỏi thì biết T5 và S đến quán cầy Chín Lý 2 nói chuyện giải quyết mâu thuẫn bị G1 dùng dao đâm, D điện thoại kêu Phạm Hồng T1 đến. T1 điều khiển xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79 đến nhà Út V. Sau đó, G điều khiển xe mô tô hiệu AirBlade biển số 63B8 - 186.85 chở T5 và S, Nguyễn Công N1 điều khiển xe mô tô Satria (không rõ biển số) chở 01 người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), D điều khiển xe Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79 chở T1, cùng đi đến cổng Cụm C gặp xe taxi do V1 điều khiển đang dừng ở đây, trên xe có ông Đ2, K và T3. Lúc này là khoảng 18 giờ cùng ngày, cả nhóm cùng đến quán thịt cầy C2 Lý 2 xuống xe, đi vào bên trong quán la lối, N1 cầm súng hướng vào nhóm của G1 đang ngồi thì G1, T2 và nhiều đối tượng khác trong quán cầm chai bia và vỏ chai bia ném trả lại, nhóm của D chạy ra bên ngoài nhặt đá và vỏ chai bia ném vào nhóm của G1,
4
đối tượng S cầm súng bắn 03 phát nhưng không trúng ai. Do bị nhóm của G1 ném chai bia liên tục nên nhóm của D bỏ chạy khỏi hiện trường, để lại xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79. G1 và Tân lượm đá đập hư hỏng phần mủ đầu xe, hông xe mô tô biển số 63B9 - 278.79.
Kết luận giám định số 7195/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, trên đít vỏ đạn có ký hiệu “YAS GLD 9 mm PAK” (thu giữ tại hiện trường) là vỏ đạn (9x22)mm (đạn cao su, đạn nổ uy hiếp, đạn hơi cay), sử dụng cho súng công cụ hỗ trợ, không sử dụng được cho vũ khí quân dụng và không phải vũ khí quân dụng. Không đủ cơ sở xác định nguồn gốc, xuất xứ của 03 vỏ đạn trên.
Kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Giá trị thiệt hại phụ tùng của 01 dè trước, 01 mặt nạ, 01 mặt đồng hồ, 02 hộp đầu trước và sau, 01 bộ khoá kính, 02 ốp sườn của xe mô tô hiệu Suzuki Sport màu đỏ là 3.140.000 đồng.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu: 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, trên đít vỏ đạn có ký hiệu “YAS GLD 9 mm PAK”; 01 xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79; 05 vỏ nhựa đựng chai bia larue, một số vỏ chai bia larue bị ném vỡ; 02 cục đá xi măng; 01 con dao cán tay cầm màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 10cm.
Việc xử lý đồ vật, tài sản, vật chứng: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Bùi Thị N - chủ quán thịt cầy Chín lý 2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSTA ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
5
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1, Trần Hữu G từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, không có tranh luận gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố T và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 29/7/2023, các bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1 cùng một số đối tượng khác đã có hành vi dùng súng bắn, ném đá, vỏ chai bia, đập phá hư hỏng đồ đạc, với nhóm của Nguyễn Công N1, Đặng Minh S, Lê Minh T8, Phạm Trường G1 gây mất trật tự nơi công cộng tại quán C5, ấp R, xã L, thành phố T, tỉnh Long An. Bị cáo Trần Hữu Giàu C3 vai trò giúp sức cho các bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, đến các quy tắc sinh hoạt, đi lại ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo sợ và ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của người dân sinh sống trên địa bàn. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”. Khi phạm tội các bị cáo sử dụng hung khí và có hành vi đập phá tài sản để thực hiện hành vi gây rối, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố
6
các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Vì vậy cần xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc để đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Qua xem xét toàn bộ chứng cứ, tài liệu hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, cũng như tính chất, mức độ tham gia và nhân thân của từng bị cáo, xét thấy trong vụ án này các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc chuẩn bị từ trước, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, trong lúc hai bên nói chuyện đã xảy ra cự cãi, hai nhóm đã lao vào đánh nhau và thực hiện hành vi gây rối trật tự nơi công cộng. Trong vụ án này không có người chủ mưu cầm đầu, không có người xúi giục, các bị cáo có vai trò khác nhau, cùng nhau thực hiện hành vi tội phạm. Riêng bị cáo Trương Văn D là người có vai trò tích cực hơn các bị cáo khác, D điện thoại kêu Phạm Hồng T1 đến, trong quá trình thực hiện hành vi gây rối bị cáo thực hiện tích cực hơn. Các bị cáo Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1 có vai trò ngang nhau cùng thực hiện hành vi gây rối nên phải chịu trách nhiệm về hành vi do các bị cáo gây ra. Bị cáo Trần Hữu Giàu C3 vai trò giúp sức, nên hạn chế hơn.
[6] Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, nên cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Trần Văn Giàu C4 cha tham gia chiến trường Campuchia, là lao động chính nuôi gia đình được địa phương xác nhận. Bị cáo Phạm Hồng T1 gia đình có người thân có công với cách mạng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được địa phương xác nhận; nên có căn cứ áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với các bị cáo Phạm Hồng T1, Trần Văn G2 do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu phạm tội với vai trò không đáng kể, các bị cáo có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bởi vậy, chưa cần thiết phải buộc chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với bị cáo Đỗ Thanh T mặc dù vai trò của bị cáo tương tự như các bị cáo khác trong vụ án, nhưng xét về nhân thân bị cáo có nhân thân không tốt. Ngày 14/01/2013, UBND huyện T, tỉnh Tiền Giang ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 04/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 04 năm 06 tháng
7
tù về tội Cố ý gây thương tích. Nên bị cáo không đủ điều kiện áp dụng điều 65 Bộ Luật hình sự. Do đó cần thiết phải cách ly xã hội đối với bị cáo mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tạo điều kiện giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[7] Đối hành vi của Phạm Trường G1 dùng dao đâm bị cáo Đỗ Thanh T gây thương tích ở ngón tay cái của bàn tay trái, bị cáo T không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.
Các đối tượng Nguyễn Công N1, Đặng Minh S, Lê Minh T2 và Phạm Trường G1 đi khỏi địa phương nơi cư trú, không rõ đi đâu và làm gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định tách vụ án hình sự số 06 ngày 04/01/2025, khi nào truy tìm được xử lý sau cùng các đối tượng khác có liên quan.
Xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79 là biển số giả, qua xác minh chủ sở hữu là Huỳnh Ngọc T9, ở ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T tách hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản thành vụ việc riêng, để xử lý theo quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T tiêu hủy theo thẩm quyền đối với 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, trên đít vỏ đạn có ký hiệu “YAS GLD 9 mm PAK”.
Tịch thu tiêu hủy đối với: 05 vỏ nhựa đựng chai bia larue, một số vỏ chai bia larue bị ném vỡ; 02 cục đá xi măng, 01 con dao cán tay cầm màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 10cm.
Đối với 01 xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với các đồi tượng gồm Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thanh T3 không tham gia gây rối nhưng có hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xem xét xử phạt hành chính theo điểm b, khoản 2, Điều 7 ND_144/2021/NĐ-CP. 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
8
2.1. Xử phạt bị cáo Trương Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/02/2025) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
3.1. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3.2. Xử phạt bị cáo Trần Hữu G 02 (hai) năm cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả tự do cho bị cáo Phạm Hồng T1, Trần Hữu G ngay sau khi tuyên án.
Giao các bị cáo Phạm Hồng T1, Trần Hữu G cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
4. Về tang vật chứng:
Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiêu hủy theo thẩm quyền đối với: 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, trên đít vỏ đạn có ký hiệu “YAS GLD 9 mm PAK”.
Tịch thu tiêu hủy: 05 vỏ nhựa đựng chai bia larue, một số vỏ chai bia larue bị ném vỡ; 02 cục đá xi măng, 01 con dao cán tay cầm màu vàng dài 10cm, lưỡi kim loại màu trắng dài 10cm.
Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSTA ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đối với 01 xe mô tô Suzuki Sport biển số 63B9 - 278.79, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh xử lý sau.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
9
sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Long An;
- - Viện KSND tỉnh Long An;
- - VKSND tp Tân An;
- - Công an tp Tân An;
- - Chi cục THADS tp Tân An;
- - UBND (nơi bị cáo cư trú)
- - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
- - Bị cáo;
- - Người liên quan;
- - Bộ phận THA hình sự;
- - Lưu: hồ sơ vụ án, AV.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Bùi Ngọc Tuyến | |
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Phạm Văn Hải – Trần Thị Chiếm | Bùi Ngọc Tuyến |
10
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Long An; (01)
- - Viện KSND tỉnh Long An; (01)
- - VKSND tp Tân An; (01)
- - Công an tp Tân An; (01)
- - Chi cục THADS tp Tân An;(01)
- - UBND (nơi các bị cáo cư trú); (04)
- - Sở Tư pháp tỉnh Long An; (01)
- - Các bị cáo; (04)
- - Người liên quan; (08)
- - Bộ phận THA hình sự; (28)
- - Lưu: hồ sơ vụ án, AV. (02)
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bùi Ngọc Tuyến |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D, Đỗ Thanh T, Phạm Hồng T1, Trần Hữu G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
