TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HSST Ngày 17/02/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*Các Hội thẩm nhân dân: - 1 Ông Nguyễn Tất Bẩy.
-2 Bà Vũ Thị Mai.
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên tòa:
Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại phòng xét xử trực tuyến, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thị xã Chũ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Thanh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang, (nay là thị xã C, tỉnh Bắc Giang); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L (nay là phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, Đảng phái: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 6/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Trịnh Thị N, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố L, phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 87/HS-ST, ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, xử phạt Nguyễn Thanh T 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với 18 tháng tù của bản án số 26/2021/HS-ST, ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm 09 tháng tù. Ngày 21/02/2024, T chấp hành xong hình phạt tù về địa phương. Tính đến thời điểm phạm tội mới T chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Năm 2014 T bị Công an huyện L Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 34, ngày 20/02/2014 về hành vi Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 53, ngày 22/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Nguyễn Thanh T 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 12/7/2018 T chấp hành xong hình phạt tù; Tại bản án số 26, ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt T 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2021 bị Công an huyện L Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 111, ngày 22/7/2021 về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: TDP T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Địa chỉ: TDP T, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang;
- Người làm chứng: Trần Văn V, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Nơi cư trú: TDP Q, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T sinh năm 1998, trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố L, phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang là người đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Buổi tối ngày 25/11/2024, T đến nhà anh Trần Văn V, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố Q, phường C, thị xã C) chơi, khi T đang chơi tại nhà anh V thì có ông Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện L (nay là tổ dân phố T, phường T, thị xã C) cũng đến nhà ông V chơi. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát: 34L5-3924 của ông O nói là để đi mua đồ ăn thì ông O đồng ý. Khoảng 00 giờ ngày 26/11/2024, T điều khiển xe mô tô mượn của ông O đi đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã C) và để xe mô tô ở một bãi đất trống, rồi đi bộ đến khu vực nhà ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990, T trèo qua bờ rào, đi vào chuồng gà nhà ông Đ mở cửa chuồng gà trộm cắp 02 con gà (loại gà ta) gồm 1 con gà trống và 1 con gà mái. Sau đó T xách 02 con gà vừa trộm cắp trèo qua bờ rào ra ngoài thì bị ông Đ phát hiện đuổi theo, T bỏ chạy được khoảng 30 mét thì vứt lại 02 con gà ra đất và chạy vào vườn của nhà dân gần đó tẩu thoát. Ông Đ nhặt lại 02 con gà, đồng thời dắt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34L5-3924 (xe T mượn của ông O) về nhà cất giữ.
Ngày 30/11/2024, ông Đ có đơn trình báo sự việc đến Công an thị trấn C để được giải quyết, đồng thời giao nộp 02 con gà và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34L5-3924. Cùng ngày, Nguyễn Thanh T đến Cơ quan Công an thị trấn Chũ đầu thú.
Ngày 02/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện lục Ngạn ra Yêu cầu định giá tài sản số 3292. Tại Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐ ĐGTS, ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 con gà trống loại gà ta, màu lông đen đỏ, cân nặng 03kg trị giá 360.000 đồng; 01 con gà mái loại gà ta, màu lông nâu đen, cân nặng 2,4kg trị giá 300.000 đồng. Tổng trị giá 660.000 đồng.
Quá trình xác minh, điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm và xác định hiện trường.
Tại bản cáo trạng số: 10/CT- VKS ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/11/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L (nay là thị xã C), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại (có đơn xin vắng mặt), người liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ, nên sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L (nay là thị xã C), phù hợp với lời khai của người bị hại; người làm chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định Nguyễn Thanh T, là người đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Khoảng 00 giờ ngày 26/11/2024, T đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 con gà ta, có tổng trị giá 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) của gia đình ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, (nay là phường C, thị xã C), tỉnh Bắc Giang.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân trong quản lý tài sản nên phải lên một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính và xét xử nhiều lần về tội trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng: Do tình tiết tăng nặng là tình tiết định tội, nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, đã từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 26/11/2024, cho thấy bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục. Để đảm bảo tính răng đe giáo dục và phòng ngừa chung, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cao hơn mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn Đ, người liên quan là ông Nguyễn Ngọc O đã nhận lại tài sản nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng: Đối với 02 con gà ta (trong đó có 01 con gà trống và 01 con gà mái) tổng trọng lượng 5,4kg, ngày 06/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1905, trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn Đ.
Đối với 1 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34L5-3924 chủ sở hữu là ông Trần Văn V1, sinh năm 1970, trú tại thành phố H, tỉnh Hải Dương, xe trên ông V1 đã cho bà Nguyễn Thị O1 sinh năm 1984, trú tại thành phố H, tỉnh Hải Dương, do không có nhu cầu sử dụng, bà O1 đã cho em trai là Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện L; khi cho T mượn xe mô tô, ông O không biết T dùng để đi trộm cắp tài sản. Tiến hành tra cứu, kết quả không trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2022, trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc O.
Nên Hội xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/11/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 05/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 05/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T - Trộm cắp tài sản
