|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HSST Ngày 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Đức Nghị.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 20 tháng 09 năm 1985; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Nguyễn Khương T1, sinh năm 1950; và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1952; Vợ: Vũ Thị Thu T2, sinh năm 1986; Con: Có 02 con ( Con lớn sinh năm 2011; Con nhỏ sinh năm 2015)
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo tại hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện T (có mặt).
- Người bị hại: Chị Trần Thị Thu G, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Hồ Xuân P – Luật sư Công ty L1- Đoàn luật sư tỉnh P (vắng mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phùng Mạnh H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Anh Trần Văn K, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Hương T3, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu Đ, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Từ khoảng cuối năm 2014, chị Trần Thị Thu G và Nguyễn Văn T có mối quan hệ tình cảm lén lút ngoài hôn nhân với nhau. Trong thời gian đó chị G và T nhiều lần quan hệ tình dục với nhau, trong nhiều lần quan hệ tình dục T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu: Vivo - 1906 màu đỏ đã cũ của T để quay lại hình ảnh, video cảnh quan hệ tình dục giữa T và chị G rồi lưu vào điện thoại của T. Trong thời gian quan hệ với T, chị G có thai năm 2016, chị G sinh một con gái là cháu Nguyễn Ngọc Bảo A. Đến năm 2017, Nguyễn Văn T thấy cháu Nguyễn Ngọc Bảo A đi chơi cùng chị Hà Thị D (chị D là em họ của chị G), nên T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên hiển thị là "Nguyễn T" nhắn tin M đến tài khoản có tên hiển thị là "H" của chị Hà Thị D với nội dung thông báo cho chị D biết cháu Nguyễn Ngọc Bảo A là con gái của T và gửi hình ảnh của cháu Nguyễn Ngọc Bảo A cho chị D. Từ năm 2020, chị Trần Thị Thu G và Nguyễn Văn T nhiều lần xảy ra mâu thuân với nhau và chị G muốn kết thúc mối quan hệ tình cảm với T, nhưng T không đồng ý, muốn níu kéo chuyện tình cảm với chị G, nên trong khoảng thời gian năm 2021, T sử dụng tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại "0355.309.xxx" của T gửi 02 - 03 hình ảnh của chị Trần Thị Thu G để lộ bộ phận sinh dục cho anh Trần Văn K là anh trai ruột của chị G. Sau khi thấy hình ảnh nhận được là em gái ruột của mình, anh K đã xóa và nói chuyện nhận được tin nhắn hình ảnh cho chị G biết.
Đến tháng 8 năm 2022, chị Trần Thị Thu G không muốn tiếp tục duy mối quan hệ với T, nên ngày 15, 16 tháng 8 năm 2022 Nguyễn Văn T sử dụng số điện thoại "+84988935203" nhắn tin đến số điện thoại "0343.710.xxx" của chị G với nội dung chửi bới và đe dọa chị G là T sẽ gửi video (Ghi hình T và G quan hệ tình dục với nhau) cho vợ chồng anh Hùng O1 (anh Phùng Mạnh H là người quen của chị G). Sau đó Nguyễn Văn T đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên hiển thị là "Sống Trên Đời" của T gửi tin nhắn "Messenger" hình ảnh chị G trong tình trạng cởi quần lộ âm hộ và video chị G trong tình trạng khỏa thân, quan hệ tình dục với 01 nam giới là T (nhưng T không đê lộ khuôn mặt của T) đến tài khoản mạng xã hội Facebook có tên hiên thị là "Nguyên Oanh" của chị Nguyễn Thị O và tài khoản có tên hiển thị là "Phung Manh Hung" của anh Phùng Mạnh H. Sau khi nhận được tin nhắn hình ảnh, video của chị Trần Thi Thu G1 thì chị Nguyễn Thị O đã nói chuyện với chị Nguyễn Thị Hương T3. Sau đó, chị T3 nói chuyện vợ chồng anh H, O nhận được tin nhắn liên quan đến chị Trần Thị Thu G có quan hệ tình cảm với người khác cho anh Nguyễn Văn L biết (anh L là chồng của chị T3 và là em trai họ của anh Nguyên Ngọc K2 (Chồng chị G). Tiếp đó, anh L đến nhà chị Nguyễn Thị O và Phùng Mạnh H và sao, chụp lại nội dung tin nhắn của chị Nguyễn Thị O nhận được. Đến ngày 19/10/2022, anh L đã nói chuyện chị G có mối quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với người khác cho anh Nguyễn Ngọc K1 và anh K1 yêu cầu anh L chuyển nội dung đã biết cho mình, nên anh Nguyễn Văn L đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên hiển thị là "Khu Nguyen" gửi tin nhắn hình ảnh chị G cởi quần đến gối để lộ bộ phận sinh dục và video chị G quan hệ tình dục với 01 người đàn ông (đã bị cắt những hình ảnh có khuôn mặt của Nguyễn Văn T) đến tài khoản có tên hiên thị là "Nguyễn Kỷ" của anh Nguyễn Ngọc K1.
Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; Bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B hại nhất trí với Bản cáo trạng, không có ý kiến gì khác.
2.Các vấn đề khác của vụ án: Ngày 16/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu V giám định mối quan hệ huyết thống bố, con giữa Nguyễn Văn T và cháu Nguyễn Ngọc Bảo A. Tại Bản kết luận giám định pháp y về ADN số: 49/23/TC-ADN ngày 04/01/2023 của V, kêt luận: Nguyên Văn T4 có quan hệ huyết thống Bố-Con với cháu Nguyễn Ngọc Bảo A. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Người bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Ngày 14/04/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu Phòng K3 - Công an tỉnh P khôi phục dữ liệu ảnh và nội dung các tin nhắn có trong ứng dụng Messenger có tên hiển thị là "Nguyễn T" đã gửi cho tài khoản có tên hiển thị là "Nguyen Oanh", "Phung Manh H1", "Tran Khanh" trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo-1906 màu đỏ cũ của Nguyễn Văn T. Ngày 10/05/2023 phòng K3 công an tỉnh P có công văn trả lời việc khôi phục dữ liệu điện tử trong thiết bị điện thoại di động, kết quả: Không khôi phục được tin nhắn đã xóa trong ứng dụng Messenger của Nguyễn T đã gửi cho "Nguyen Oanh", "Phung Manh H1", "Tran Khanh". Nên ngày 13/5/2023, Cơ quan cảnh sát điêu tra - Công an huyện T ra Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nêu trên. Ngày 14/10/2024, Cơ quan cảnh sát điêu tra - Công an huyện T ra Quyết định phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với tô giác của chị Trần Thị Thu G và tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ và triệu tập đối tượng Nguyễn Văn T đến làm việc.
3.Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát: Tại Bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Làm nhục người khác” theo điểm e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình Bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Văn T.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 590 của Bộ luật dân sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại Trần Thị Thu G số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) hiện được tại giữ tại tài khoản của Chị cục Thi hành án huyện Tân Sơn. Tại phiên tòa Bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp cho chị Trần Thị Thu G 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) cần xác nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày chị G có đơn yêu cầu thi hành án thì bị cáo T còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Dân sự trong vụ án Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47; Điều 48; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn L 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo - 1906 màu đỏ cũ của Nguyễn Văn T.
Lưu trữ theo hồ sơ vụ án 03 thẻ nhớ loại do Bị hại G cung cấp gồm: 01 chiếc thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra, loại 08GB màu đỏ, xám, đen; 01 chiếc USB màu trắng nhãn hiệu Kingston, loại DTSE9 dung lượng 16GB; 01 chiếc USB bằng kim loại màu bạc nhãn hiệu Toshiba, loại Trans Memory 4GB và 01 đĩa DVD lưu trữ dữ liệu hình ảnh video do anh Nguyễn Ngọc K1 cung cấp.
4. Ý kiến của người Bị hại:
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật để xử phạt Bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
4. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của Bị cáo là vi phạm pháp luật thành thật xin lỗi Bị hại và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo, người Bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà hôm nay Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại, Người liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Từ năm 2014 đến 2022 Bị cáo Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Thu G có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với nhau. Trong những lần quan hệ tình dục với chị G, T nhiều lần sử dụng điện thọai di đông của mình để chụp ảnh, quay lại video hình ảnh quan hệ tình dục giữa T với chị G. Đến tháng 8 năm 2022 chị G không muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này với T, nên Bị cáo T đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook của T giử tin nhắn “Messenger”các hình ảnh chị G trong tình trạng cởi quần lộ âm hộ và video chị G trong tình trạng khỏa thân, quan hệ tình dục với một nam giới tên là T đến tài khoản mạng xã hội Facebook để nhằm làm ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của chị Trần Thị Thu G.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến uy tín, nhân phẩm danh dự được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý, là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của Bị cáo thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người Bị hại chị Trần Thị Thu G đề nghị Bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện bồi thường cho chị Trần Thị Thu G 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Xác nhận, ngày 18/12/2024 Bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện T 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Hiện được tạm giữ tại tài khoản của Chị cục Thi hành án huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho chị Trần Thị Thu G 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47; Điều 48; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho anh Nguyễn Văn L 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng. Tịch thu và tiêu hủy: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo - 1906 màu đỏ cũ của Nguyễn Văn T.
Lưu trữ theo hồ sơ vụ án 03 thẻ nhớ do Bị hại G cung cấp gồm: 01 chiếc thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra, loại 08GB màu đỏ, xám, đen; 01 chiếc USB màu trắng nhãn hiệu Kingston, loại DTSE9 dung lượng 16GB; 01 chiếc USB bằng kim loại màu bạc nhãn hiệu Toshiba, loại Trans Memory 4GB và 01 đĩa DVD lưu trữ dữ liệu hình ảnh video.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm nhục người khác”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu Bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 08/LCĐKNCT-TA ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Văn T.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357,468, 584, 590 của Bộ luật dân sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện bồi thường cho chị Trần Thị Thu G 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng). Xác nhận, ngày 18/12/2024 Bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Hiện được tạm giữ tại tài khoản của Chị cục Thi hành án huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho chị Trần Thị Thu G 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày chị G có đơn yêu cầu đối với số tiền là 15.000.000 đồng mà bị cáo tự nguyện bồi thường, nếu bị cáo không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47; Điều 48; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trả lại cho anh Nguyễn Văn L 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng. Tịch thu và tiêu hủy: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo - 1906 màu đỏ cũ của Nguyễn Văn T.
Lưu trữ theo hồ sơ vụ án 03 thẻ nhớ do Bị hại G cung cấp gồm: 01 chiếc thẻ nhớ nhãn hiệu SanDisk Ultra, loại 08GB màu đỏ, xám, đen; 01 chiếc USB màu trắng nhãn hiệu Kingston, loại DTSE9 dung lượng 16GB; 01 chiếc USB bằng kim loại màu bạc nhãn hiệu Toshiba, loại Trans Memory 4GB và 01 đĩa DVD lưu trữ dữ liệu hình ảnh video.
5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000₫ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Chí |
Bản án số 05/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tội làm nhục người khác)
- Số bản án: 05/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hình sự Nguyễn Văn T - Làm nhục người khác
