Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17/02/2025

Về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Hoà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Đô

2. Ông Nguyễn Ngọc Trứ

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Ông Giáp Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị V, sinh năm 2000.(Xin vắng mặt)

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994. (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Triệu Thị V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn L có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang vào ngày 08/3/2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm, anh L hay nghi ngờ vợ chồng giữa chị Triệu Thị V và anh Nguyễn Văn L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị Triệu Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

hôn nhân thực tế đã không tồn tại. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Về con chung:

Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú U, sinh ngày 03/01/2019 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/6/2022, hiện các con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng anh L. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh L nuôi hai con chung, anh L yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Thành C, mức cấp dưỡng 1.500.000đ/1 tháng kể từ ngày 30/12/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hình thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, chị nhất trí với ý kiến của anh L.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung:

Vợ chồng chị không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai, anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh và chị V có được tự do tìm hiểu rồi tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị V không chung thủy có quan hệ tình cảm với người khác, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngày 20/01/2024 chị V tự ý bỏ nhà đi. Vợ chồng anh ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm ai nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị V làm đơn xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung:

Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú U, sinh ngày 03/01/2019 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/6/2022, hiện các con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng với anh. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Thành C, mức cấp dưỡng 1.500.000đ/1 tháng kể từ ngày 30/12/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hình thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung:

Vợ chồng anh không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

+ Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, xử: Cho chị Triệu Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Tú U, sinh ngày 03/01/2019 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/6/2022. Chị V cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thành C, mức cấp dưỡng 1.500.000đ/1 tháng kể từ ngày xét xử 17/02/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hình thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung:

Chị V, anh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí:

Chị Triệu Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Triệu Thị V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn L cư trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Chị V và anh L đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị V và anh L.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn thấy:

Chị V và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Qua lời khai của chị V, lời khai của anh L, có đủ căn cứ khẳng định: Chị V và anh L chung sống hạnh phúc đến tháng 9/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, vợ chồng nghi ngờ, không tin tưởng lẫn nhau nên hai vợ chồng hay xảy ra cãi vã, xô xát. Chị V, anh L sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị V và anh L đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Triệu Thị V vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn L. Bị đơn anh L cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, chị V tự ý bỏ nhà đi, không quan tâm đến gia đình, và có quan hệ tình cảm với người khác. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Triệu Thị V và anh Nguyễn Văn L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị Triệu Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:

Chị Triệu Thị V và anh Nguyễn Văn L cùng thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Tú U, sinh ngày 03/01/2019 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/6/2022 hiện nay cả hai con chung đều khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng anh L. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “... con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi ... hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”, trong vụ án này chị V và anh L đều thống nhất giao cả hai con chung cho anh L nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy hai con chung đã ở cùng anh L từ khi sinh ra đến nay, anh L vẫn chăm sóc các con chung đảm bảo các con chung vẫn phát triển bình thường. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh gây xáo trộn đến cuộc sống và ảnh hưởng tâm sinh lý của các cháu cần giao hai con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Tại bản tự khai anh Nguyễn Văn L yêu cầu chị Triệu Thị V cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thành C với mức cấp dưỡng 1.500.0000 đồng/01 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 30/12/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, hình thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Chị Triệu Thị V nhất trí ý với yêu cầu cấp dưỡng của anh L. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên nên cần tôn trọng ý kiến của các đương sự, mức cấp dưỡng này phù hợp với nguyện vọng và mức thu nhập của chị V, chi phí thực tế và điều kiện sống tại địa phương. Do vậy Hội đồng xét xử chấp mức cấp dưỡng này.

[5] Về quyền thăm con:

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

[6] Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung:

Chị V, anh L xác định không có gì không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí:

Chị Triệu Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

2. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị V: Xử cho chị Triệu Thị V được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

3. Về con chung:

Giao cho anh Nguyễn Văn L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Tú U, sinh ngày 03/01/2019 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/6/2022. Chị Triệu Thị V cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Nguyễn Thành C với mức cấp dưỡng 1.500.0000 đồng/ 01 tháng, thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 30/12/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, hình thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở họ thực hiện quyền này.

4. Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung:

Chị Triệu Thị V và anh Nguyễn Văn L cùng thừa nhận không có gì, không yêu cầu Tòa án xem xét.

5. Về tiền án phí:

Chị Triệu Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị V đã nộp tại biên lai số 0004392 ngày 30/12/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa thu. Chị V còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - UBND xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viên - Lành
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger