TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/DS-ST
Ngày:14 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Thanh Cảnh,
bà Nguyễn Thị Quế Anh.
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST-DS ngày 02/3/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 267/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-ST ngày 06/01/2025; Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 66/2025/TB-DS.HC ngày 08/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐ-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phan Thị H, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Văn V, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Khối C, thị trấn T (nay là thị trấn D), huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn D - Văn phòng luật sư Văn D và cộng sự: địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường H, Thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: ông Phạm Viết H1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Đình T. Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện. Vắng mặt. Có văn bản xin xét xử vắng mặt.
- + Ủy ban nhân dân xã T. Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Cảnh N. Chức vụ: Chủ tịch UBND xã. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Ban Q. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Phùng T1. Chức vụ: Trưởng B. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn S (Thôn A cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Bá T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn S (Thôn A cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Viết T3, sinh năm 1945; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Anh Phạm Huy C, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A A, nay là thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Anh Phạm Viết C1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn S (Thôn A cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Anh Phạm Viết T4, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn S (Thôn A cũ), xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Công Đ, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- + Ông Trần Đình L, sinh năm 1972. Trú tại: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2023, đơn trình bày bổ sung và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phan Thị H là ông Lê Văn V và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thống nhất trình bày:
Năm 2006, bà Phan Thị H và chồng là ông Trần Văn H2 được Ủy ban nhân dân huyện (viết tắt là UBND) Thanh Chương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất) số AG 408747 ngày 15/9/2006 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, diện tích 123.314m² tại Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Năm 2013, ông Trần Văn H2 chết. Sau khi ông H2 chết, năm 2016, bà Phan Thị H và hàng thừa kế thứ nhất của ông H2 đã lập văn bản phân chia thừa kế đối với thửa đất nói trên cho bà Phan Thị H được quyền toàn quyền sử dụng và định đoạt. Ngày 28/4/2016, UBND huyện T đã cấp lại thửa đất đứng tên một mình bà Phan Thị H thể hiện tại GCNQSD đất số CD 526027 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, diện tích 123.314m² tại Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi được cấp GCNQSD đất thì bà Phan Thị H phát hiện ông Phạm Viết H1 đã lấn chiếm và trồng keo trên phần đất của bà với diện tích khoảng 8,01ha (tương đương 80.100m² đo đạc theo thực tế là 59.844m² (theo kết quả đo đạc ngày 19/8/2024 là 56.303m²) có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất của bà Phan Thị H, phía Nam giáp đất ông Trần Văn C2, phía Tây giáp đất Lâm trường Thanh Chương hiện nay ông Phạm Viết H1 đang sử dụng; phía Bắc giáp đất ông Trần Văn T5.
Bà Phan Thị H cho rằng, diện tích 8,01ha đất (đo đạc lại là 59.844m²) nói trên là đất của bà đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất năm 2006 và 2016 nên việc ông Phạm Viết H1 đã lấn chiếm và trồng keo là trái quy định pháp luật và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của bà H.
Theo kết quả thẩm định, định giá lại ngày 19/8/2024 thì hiện nay trên phần đất đang tranh chấp ông H1 đang trồng lứa keo mới, đồng thời ông H1 cho ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1990 và ông Trần Đình L, sinh năm 1972 cùng trú tại thôn S, xã T, huyện T; ông Nguyễn Bá T2, sinh năm 1980 trú tại xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An trồng lại cây keo mới.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý với kết quả thẩm định, định giá.
Trong bản tự khai ngày 24/5/2022, trong đơn phản tố và trong các phiên hòa giải, bị đơn ông Phạm Viết H1 và trình bày:
Năm 1985, vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình đã lên vùng khe Suối Mạn Tác. Ngày 20/12/2001 ông Phạm Viết H1 được giám đốc Lâm trường T7 nay là Rừng phòng hộ T, tỉnh Nghệ An giao cho ông 30ha đất rừng và đất tại lô K, khoảnh 7, tiểu khu I, Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp ổn định lâu dài, hạn 20 năm. Sau khi nhận giao khoán, Lâm trường Thanh C3 giao cho ông sổ lâm bạ, hợp đồng và sơ đồ thửa đất, biên bản bàn giao hiện trường kèm theo, nay chưa được cấp GCNQSD đất. Khi giao đất có vị trí lô đất rõ ràng. Phía Bắc giáp đất ông L1, phía Tây giáp đất ông T3, phía Đông và phía Nam giáp đất lâm trường chưa giao cho ai. Khi giao đất cho ông chưa có thửa đất tờ bản đồ số mấy mà chỉ có lô khoảnh và tiểu khu. Đất giao cho ông là của Lâm trường T7 thuộc lô K, khoảnh 7, tiểu khu I, ông không lấn chiếm đất của ai kể cả đất của bà H. Từ đó đến nay ông sử dụng ổn định, không có tranh chấp, trồng và thu hoạch 03 lần keo, mỗi lần thu hoạch là 05 năm, hiện nay trên đất có cây keo 06 năm (đã đến tuổi thu hoạch nhưng do tranh chấp nên chưa thu hoạch). Vào trung tuần tháng 8/2019, anh Lê Văn V phát đơn kiện ông lấn chiếm đất của anh V trong thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 mà anh chuyển nhượng từ bà Phan Thị H. Như vậy, GCNQSD đất mang tên bà Phan Thị H đã cấp chồng lấn lên diện tích đất của gia đình ông là không đúng quy định pháp luật, bìa đất của gia đình ông chưa bị cơ quan nào thu hồi. Nay bà Phan Thị H yêu cầu ông Phạm Viết H1 thu hoạch cây keo và trả lại diện tích 8,01ha (tương đương 80.100m²) đất rừng thì ông không nhất trí và yêu cầu Tòa án hủy một phần GCNQSD đất của bà Phan Thị H số CD 526027 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 2 cấp ngày 28/4/2016 đồng thời hủy một phần quyết định giao đất cho bà H phần 8,01ha mà bà H nói ông Lấn C4, vì đất giao cho ông 30 ha tứ cận rõ ràng, nay đo bằng máy móc diện tích tăng lên đó là điều tất nhiên. Nếu Nhà nước thu hồi giao cho người khác thì phải bồi thường tiền cho ông theo Nghị định 163 của Chính phủ vì đất giao cho ông nay thu hồi giao cho bà H là không đúng. Ngoài diện tích đất ông đang trồng keo thì trên thửa đất có ông Phạm Viết T3, anh Phạm Huy C, anh Nguyễn Bá T2, ông Phạm Viết C1, anh Phạm Viết Đ1, anh Phạm Viết T4 và anh Nguyễn Đình T6 mượn của ông trồng cây keo.
Đất và tài sản trên đất bị đơn không biết giá đất và tài sản trên đất.
Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị N1 thống nhất như các lời khai của ông Phạm Viết H1.
Ông Nguyễn Bá T2 trong bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 26/7/2022 trình bày: ông là con rể của ông Phạm Viết H1. Năm 2008 ông lấy con ông H1, năm 2009 ông mượn đất của ông H1 để trồng keo cho đến nay, diện tích ông trồng keo là 3,1ha, từ đó đến nay ông trồng 03 lần, đã thu hoạch 02 lần, hiện nay là trồng lần 3, đã đến thời kỳ thu hoạch nhưng do tranh chấp nên chưa thu hoạch, mỗi lần trồng đến thời gian thu hoạch là 05 năm. Nay bà H khởi kiện thì ông không có ý kiến gì, đất đó là đất của ông H1 thì ông H1 tự quyết định.
Ông Phạm Viết T3 trong các biên bản lấy lời khai và tại phiên hòa giải ngày 26/7/2022 trình bày: sau khi ông H1 được lâm trường huyện T giao khoán, ông H1 cho ông T3 mượn đất để trồng keo, mỗi người mượn một thửa, hiện nay trên diện tích ông trồng 01ha, keo trồng khoảng năm thứ 6. Ông H1 cũng cho anh T4, con trai ông T3 mượn một phần đất để trồng keo, diện tích bao nhiêu ông không biết. Khi xảy ra tranh chấp thì ông, anh T4 và anh C1 đã thu hoạch toàn bộ keo đã trồng và trả lại đất cho ông H1 từ đó đến nay. Hiện nay bà H yêu cầu ông H1 trả lại đất thì ông mượn của ông H1 thì ông trả cho ông H1, ông không muợn của bà H. Ông H1 tự quyết định xử lý.
Ông Phạm Viết C1 trong biên bản lấy lời khai và tại phiên hòa giải ngày 26/7/2022: sau khi ông H1 được lâm trường huyện T giao khoán, ông H1 cho ông mượn đất để trồng keo, hiện nay trên diện tích ông trồng 01ha, keo trồng khoảng năm thứ 6. Hiện nay bà H yêu cầu ông H1 trả lại đất thì ông không có ý kiến gì, vì thửa đất đó là của ông Phạm Viết H1, ông H1 tự quyết định.
Ông Phạm Huy C trong phiên hòa giải ngày 26/7/2022 trình bày: ông có quan hệ là con đẻ ông H1 và bà N1. Ông là người sử dụng trực tiếp với ông H1, bà N1 thửa 30ha mà lâm trường huyện T đã giao khoán cho gia đình. Nay bà H yêu cầu như trên thì ông không có ý kiến gì, đó là diện tích đất lâm trường đã giao khoán cho ông H1, thì ông H1 tự quyết định.
Ông Phạm Viết T4 trong biên bản lấy lời khai ngày 14/9/2022 trình bày:
Phần diện tích ông đang trồng keo theo ông đây là phần đất ông Phạm Viết H1 được Lâm trường huyện T7 (nay là Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Q) giao cho sử dụng từ năm 2001. Sau khi ông H1 được giao đất đã cho ông và ông Phạm Viết T3 (bố của ông T4) mượn một phần diện tích để sử dụng. Trên phần đất này ông và ông T3 (bố của ông) đã trồng keo được 06 năm tuổi. Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông trả lại phần đất thì ông không nhất trí.
Ông Nguyễn Công Đ và ông Trần Đình L đã được Tòa án triệu tập đến để làm việc và tham gia phiên hòa giải, phiên tòa, cả hai ông đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không đến Tòa án để làm việc cũng như không đến tham gia phiên tòa nên đối với tài sản trên đất nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu.
Ủy ban nhân dân huyện T có văn bản trình bày: Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho bà H là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật vì: Về nguồn gốc thửa đất số 115, tờ bản đồ 2 đã được cấp GCNQSD đất của bà Phan Thị H là do bà Phan Thị H nhận thừa kế từ ông Trần Văn H2 (chồng bà Phan Thị H).
Sau khi có đơn đăng ký cấp GCNQSD đất của bà Phan Thị H đối với thửa đất 115, tờ bản đồ số 2 có xác nhận của chính quyền địa phương xã T, thửa đất sử dụng ổn định không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch; được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm định đủ điều kiện cấp GCNQSD đất, thông qua trích lục bản đồ địa chính đối với thửa đất 115, tờ bản đồ số 2 thì đều có chữ ký của các hộ liền kề, gồm có ông Trần Văn T5, Nguyễn Doãn N2, Trần Văn C2 và Phạm Viết H1. Ông Phạm Viết H1 yêu cầu hủy GCNQSD đất thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ban Q có văn bản trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H: Việc UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho ông Trần Văn H2 vào năm 2006, đến tháng 04/2016 chuyển thừa kế sang tên bà Phan Thị H trên diện tích đất của Lâm trường Thanh Chương đã trả về cho UBND xã T theo Quyết định số 161/QĐ-UB.ĐC ngày 20/02/2004 của UBND tỉnh N. Đối với nội dung này không thuộc thẩm quyền của Ban Q nên B không có ý kiến.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Phạm Viết H1: Ông Phạm Viết H1 nhận khoán của T7 nay là Ban Q diện tích đất 30ha, tại lô K, khoảnh 7, tiểu khu I, có số Lâm bạ giao khoán đất rừng theo Quyết định số 19/QĐ/GĐ ngày 20/12/2001 của Lâm trường T7 về việc giao khoán đất vào mục đích lâm nghiệp trong Lâm trường quốc doanh theo NĐ 01/CP và hợp đồng giao khoán số 19/HĐ-KT ngày 20/12/2001.
Căn cứ chủ trương rà soát lại diện tích giao khoán theo Nghị định 01/NĐ-CP và Nghị định 135/NĐ-CP để thực hiện theo Nghị định 168/NĐ-CP về giao khoán rừng và đất lâm nghiệp, vườn cây, mặt nước trong các đơn vị lâm nghiệp, Ban Q đã tiến hành rà soát lại toàn bộ diện tích giao khoán của đơn vị trong đó có diện tích của ông Phạm Viết H1. Kết quả rà soát thì diện tích theo hợp đồng nhận khoán số 19 ngày 20/12/2001 của ông Phạm Viết H1 còn nằm trong ranh giới của B1 quản lý là 28,53 ha, hao hụt so với diện tích giao khoán tại hợp đồng số 19 năm 2001 là 1,47 ha. Lý do hao hụt này là do trước đây đo bằng phương pháp thủ công hiện nay đo bằng công nghệ GPS, còn ranh giới tại thực địa không thay đổi (vì do người nhà ông H1 dẫn đường đi đo ranh giới). Việc hao hụt này dưới 5% nên trong lâm nghiệp được chấp nhận.
Còn diện tích 8,01ha theo ông Phạm Viết H1 là đất ông trồng keo và được giao khoán thì nằm hoàn toàn trên ranh giới đất lâm nghiệp do UBND xã T quản lý. Diện tích 8,01ha này nằm trong diện tích 455,3 ha rừng và đất lâm nghiệp do lâm trường T7 quản lý được UBND tỉnh thu hồi giao lại cho UBND xã T theo Quyết định số 161/QĐ-UB.ĐC ngày 20/02/2004 của UBND tỉnh N.
Sau khi hết hạn theo hợp đồng giao, ngày 28/01/2021, Ban Q đã thông báo để tiến hành thanh lý hợp đồng giao khoán số 19/HĐ-KT ngày 20/12/2001. Ông Phạm Viết H1 đã quá tuổi lao động không được tiếp tục giao khoán nên đã có đơn xin chuyển nhượng lại cho các con để nhận khoán, tuy nhiên do còn tranh chấp nên Ban Q chưa thực hiện.
Sau khi ông Phạm Viết H1 có đơn kiến nghị đến UBND huyện T và thực hiện Thông báo số 19/TB-UBND ngày 20/4/2021 của UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của công dân, ngày 20/5/2021 Ban Q đã phối hợp với UBND xã T để kiểm tra hiện trạng và làm việc với các hộ nhận khoán có khiếu nại trong đó có ông Phạm Viết H1. Ban QLRPH đã làm rõ ranh giới sử dụng đất và các vấn đề liên quan nhưng ông Phạm Viết H1 không đồng ý.
Ngày 31/12/2021, Ban Q ban hành Quyết định số 107/QĐ-BQLRPH về việc chấm dứt hợp đồng giao khoán rừng sản xuất đối với ông Phạm Viết H1. Quyết định này đã được giao tận tay ông Phạm Viết H1 gày 08/01/2022, có giấy biên nhận ông Phạm Viết H1 ký tên.
Ủy ban nhân dân xã T có văn bản trình bày: Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Trần Văn H2 và bà Phan Thị H: Ông H2 và bà H được giao đất và cấp GCNQSD đất theo NĐ 163/NĐ-CP năm 2006, thời gian này đất đã được Lâm trường trả cho Thanh An theo Quyết định 161/QĐ-UBND ngày 20/5/2004 của UBND tỉnh về việc thu hồi đất của Lâm trường T7. Quy trình cấp GCNQSD đất đối với ông Trần Văn H2 và bà Phan Thị H được thực hiện theo đúng quy định của Luật Đất đai và Nghị định 163/NĐ-CP. Sau này cấp GCNQSD đất cho bà Phan Thị H là do ông Trần Văn H2 chết năm 2015 và bà Phan Thị H nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ chồng
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án:
Tòa án đã tiến hành thẩm định, định giá lại theo yêu cầu của nguyên đơn đối với tài sản tranh chấp ngày 19/8/2024 như sau:
Về thẩm định:
Trên đất tranh chấp có cây keo từ 01 – 03 năm tuổi do ông Phạm Viết H1 trồng và cây keo dưới 01 năm tuổi do ông Nguyễn Công Đ và ông Trần Đình L trú tại xóm S, xã T, huyện T trồng. Ông V khai ông Đ và ông L mua đất ông H1 bán để trồng keo. Anh Nguyễn Bá T2, con rể ông H1 cũng trồng keo trên phần đất tranh chấp này.
Về định giá:
Đất tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có giá 4.500 đồng/m²; cây keo dưới 01 năm tuổi: 30.000.000 đồng/ha; cây keo 01 năm tuổi đến 03 năm tuổi: 40.000.000 đồng/ha.
Tại buổi thẩm định, định giá này, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc ông Phạm Viết H1, ông Nguyễn Công Đ, ông Trần Đình L và ông Nguyễn Bá T2 phải di dời những cây keo đã trồng để trả lại diện tích tranh chấp tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 thuộc Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để trả lại đất cho bà theo kết quả đo đạc ngày 19/8/2024 là 56.303m²; không đồng ý bồi thường hỗ trợ cho ông Phạm Viết H1 vì đã có công sức khai phá, cải tạo diện tích đất tranh chấp vì ông H1 đã thu lợi trên thửa đất đó kể từ khi hết hợp đồng giao khoán.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn được cấp đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền nên không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nêu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Theo Báo cáo của Ban Q thì trong 8,01ha diện tích đất tranh chấp có 1,5ha là thuộc diện tích đã giao khoán cho ông H1. Còn 6,51ha không thuộc diện tích Lâm trường đã giao khoán cho hộ ông H1. Như vậy, giữa báo cáo và xác nhận của Ban QLRPH có sự mâu thuẫn nhau; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/8/2024 không thể hiện lô K, khoảnh 7, tiểu khu I giao cho ông H1 năm 2001 có vị trí ở đâu, diện tích thực tế bao nhiêu nhưng Tòa án chưa làm rõ nội dung này; chữ ký trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất của bà Phan Thị H có phải chữ ký của ông Phạm Viết H1 hay không. Đề nghị tạm ngừng phiên tòa để làm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự; kết quả tranh tụng tại phiên toà và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Nguyên đơn và bị đơn có quan hệ tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt, đã được hòa giải tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 27/12/2021 nên đáp ứng điều kiện khởi kiện theo quy định tại khoản 9 Điều 26; khoản 4 Điều 34; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 192 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 202 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
- Nguyên đơn, bà Phan Thị H vắng mặt nhưng người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có mặt; bị đơn ông Phạm Viết H1, bà Nguyễn Thị N1, anh Phạm Viết C1, ông Trần Đình L, ông Nguyễn Công Đ, ông Phạm Viết T3, ông Nguyễn Bá T2, đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; ông Phạm Huy C đi khỏi nơi cư trú sau khi đã có ý kiến về nội dung khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của bị đơn, đã tham gia phiên hòa giải, nội dung giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông; UBND huyện T, UBND xã T và Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Q có văn bản xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về đề nghị tạm ngừng phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:
Căn cứ Báo cáo của Ban Q, Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Trần Văn H2, cấp đổi GCNQSD đất cho bà Phan Thị H; Biên bản xác định ranh giới đất của bà Phan Thị H; Bản đồ giao đất rừng cho ông Phạm Viết H1 về vị trí thửa đất, diện tích thửa đất và trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Viết H1 không đề nghị làm rõ chữ ký của ông H1 có trong các tài liệu đã nêu trên; mặt khác, hiện nay Hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp cho ông Phạm Viết H1 đã hết nên không cần thiết phải ngừng phiên tòa để làm rõ các nội dung trên nữa.
[3] Về nội dung:
- [2.1] Xét nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất tranh chấp:
- Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, gồm: Quyết định giao khoán số 19QĐ/GK ngày 20/12/2001; Hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng gây trồng rừng sản xuất ký kết giữa hộ ông Phạm Viết H1 và T7 ngày 20/12/2001; Biên bản bàn giao hiện trường; bản đồ giao đất khoán rừng; thủ tục cấp GCNQSD đất và GCNQSD đất ngày 28/4/2006 mang tên ông Trần Văn H2 và bà Phan Thị H và GCNQSD đất cấp cho bà Phan Thị H năm 2016 có cơ sở xác định:
- Thửa đất tại lô K khoảnh 7, tiểu khu I, diện tích 30 ha rừng và đất và một phần diện tích đất nằm trong GCNQSD đất của bà Phan Thị H tại Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An do Lâm trường T7 quản lý từ năm 1992.
- Năm 2001, Lâm trường T ký hợp đồng giao khoán bảo vệ gây trồng rừng với hộ ông Phạm Viết H1. Quyết định giao khoán số 19.QĐ/GK ngày 20/12/2001 có nội dung: “Điều 1: Nay giao khoán cho ông Phạm Viết H1 được nhận khoán 30ha rừng và đất tại lô K khoảnh 7 tiểu khu I để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, ổn định, lâu dài trong thời hạn 20 năm kể từ ngày nhận khoán; Điều 3: Ông Phạm Viết H1 có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu theo hợp đồng giao khoán hàng năm và chu kỳ sản xuất lâm nghiệp phù hợp quy định tại Nghị định 01/CP của Chính phủ”.
- Hợp đồng khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng số 19/HĐ – KT ngày 20/12/2001 có nội dung: “Điều 1: Bên A khoán cho bên B 1. Diện tích đất có rừng bảo vệ 10,0ha; 2. Diện tích đất rừng cần khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh: 8,0ha; 3. Diện tích đất chưa có rừng để gây trồng:12,0ha. Tổng diện tích giao khoán để bảo vệ, gây trồng rừng: 30ha thuộc lô K khoảnh 7 tiểu khu I”. Điều 3: Được thanh toán kịp thời tiền công khoanh nuôi, bảo vệ rừng, gây trồng rừng sau khi nghiệm thu theo thời gian nhà nước đầu tư hàng năm (hoặc bằng sản phẩm khác quy thành tiền); Điều 4. Cam kết giữa bên A và bên B: Nếu vì lý do nào đó mà bên A hoặc bên B muốn hủy bỏ hợp đồng thì phải báo trước ...; Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 20/12/2001 đến 31/12/2021 và sẽ được bổ sung hàng năm”. Theo đó gia đình ông Phạm Viết H1 được khoán 30ha diện tích đất rừng tại lô K khoảnh 7, tiểu khu I thuộc Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Sau khi được giao khoán, gia đình ông H1 tiến hành bảo vệ, phát sẻ và trồng keo.
- Năm 2002, Lâm trường T7 có Công văn số 26/CV-GĐ ngày 29/4/2002 rà soát các diện tích đất và rừng đã giao khoán cho các hộ nhận khoán trong toàn Lâm trường để đánh giá lại hiệu quả các diện tích rừng đã được Lâm trường giao khoán đồng thời có văn bản phản ánh một phần diện tích sử dụng kém hiệu quả, khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng, đề nghị được trả lại 445,3 ha đất rừng cho Ủy ban nhân dân huyện T quản lý.
- Ngày 24/5/2003 Ủy ban nhân dân xã T có thông báo số 04-TB-UB có nội dung: “nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất lâm nghiệp thì trực tiếp Ủy ban nhân dân xã để đăng ký và làm đơn xin giao đất lâm nghiệp để Ủy ban nhân dân xã P với đơn vị 102 làm thủ tục đo đạc, giao đất cho các hộ ổn định, lâu dài”. Do ông H2 có đơn xin nhận đất nên ngày 18/6/2003 UBND xã T đã bàn giao đất lâm nghiệp cho ông Trần Văn H2 với diện tích 123.314m². Trong thời gian từ năm 2003 đến 2004 (thời gian ông H2 được UBND xã T bàn giao đất lâm nghiệp cho đến khi có quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh N), giữa gia đình ông H1 và gia đình ông H2 không có tranh chấp khiếu kiện gì liên quan đến thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 thuộc Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Năm 2004, UBND tỉnh N đã có quyết định số 161/QĐ-UB.ĐC ngày 20/02/2004 về việc thu hồi 445,3 ha đất của Lâm trường Thanh Chương (trong đó có phần đất mà gia đình ông H1 được giao khoán).
- Sau khi thu hồi đất, UBND tỉnh N đã giao lại diện tích đất thu hồi cho UBND huyện T quản lý, bố trí sử dụng. Căn cứ chủ trương giao đất cho các hộ gia đình cá nhân để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ và đơn xin nhận đất của ông Trần Văn H2, UBND huyện T đã cấp GCNQSD đất cho gia đình ông H2 vào ngày 15/9/2006 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02, diện tích 123.314,0m² thuộc Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
- Sau khi được cấp GCNQSD đất, gia đình ông H2 đã sử dụng ổn định và trồng keo. Năm 2015, ông Trần Văn H2 chết. Bà Phan Thị H và các con của ông H2 và bà H đã lập văn bản để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nói trên của ông H2 và bà H cho bà H và được UBND xã T, huyện T chứng thực ngày 29/3/2016. Năm 2016, khi bà Phan Thị H làm thủ tục cấp đổi GCNQSD đất từ ông Trần Văn H2 sang tên bà Phan Thị H thì bà Phan Thị H phát hiện ông Phạm Viết H1 đang trồng keo trên phần đất của mình, với diện tích 8,01ha, tương đương 59.844m². Hiện nay, theo lời khai của ông Lê Văn V, người đại diện theo ủy quyền của bà H thì trên diện tích đất tranh chấp, ông Đ, anh L và anh Nguyễn Bá T2 đang trồng keo, trong đó diện tích keo 01 năm tuổi là 41.498m², diện tích keo 01-03 năm tuổi là 14.805m².
- Như vậy, có căn cứ khẳng định phần diện tích tranh chấp nằm trong GCNQSD đất của ông Trần Văn H2 và bà Phan Thị H được UBND huyện T cấp ngày 15/9/2006 và được cấp đổi sang tên bà Phan Thị H ngày 28/4/2016 là đất thuộc quyền quản lý của Ban QLRPH giao khoán cho ông Phạm Viết H1 và được UBND tỉnh N thu hồi năm 2004.
- [2.2] Xét yêu cầu hủy GCNQSD đất cấp cho bà Phan Thị H của ông Phạm Viết H1:
- Xét trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 15/9/2006 cho ông Trần Văn H2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/06/2016 cho bà Phan Thị H.
- Như đã nhận định tại mục [2.1], có cơ sở xác định: thửa đất số 106, tờ bản đồ số 02 thuộc Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An thuộc quyền quản lý sử dụng của Lâm trường T7 vào năm 1992. Năm 2001, Lâm trường T7 ký hợp đồng giao khoán với hộ ông H1. Căn cứ nội dung Quyết định giao khoán số 13QĐ/GK ngày 12/12/2001 và Hợp đồng khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng số 13/HĐ – KT ngày 12/12/2001, xác định diện tích đất giao cho ông H1 để khoanh nuôi, bảo vệ trồng rừng có thời hạn là 20 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng đến ngày 31/12/2021.
- Năm 2002, do việc quản lý, sử dụng đất rừng kém hiệu quả, Lâm trường T có văn bản đề nghị trả lại 445,3 ha đất rừng cho UBND huyện T quản lý. Năm 2004, UBND tỉnh N thu hồi 445,3 ha đất rừng của Lâm trường T. Năm 2006 UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho ông H2 và bà H đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 02 tại Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.
- Mặc dù UBND tỉnh N thu hồi 445,3ha đất rừng của Lâm trường T7 vào năm 2004. Tuy nhiên, sau khi UBND tỉnh có quyết định thu hồi đất, Lâm trường T7 không có quyết định thanh lý hợp đồng giao khoán với ông Phạm Viết H1, ông H1 sử dụng diện tích đất cho đến ngày Lâm trường (sau này là Ban QLRPH) có Quyết định chấm dứt và thanh lý hợp đồng giao khoán đúng hạn; sau ngày hết hạn hợp đồng giữa Ban Q và ông Phạm Viết H1 không có văn bản nào thể hiện có gia hạn hợp đồng do đó sau ngày 31/12/2021 cho đến nay ông H1 không được quyền sử dụng đối với diện tích đã từng được giao khoán. Căn cứ bản đồ giao đất khoán rừng cho hộ nhận khoán Phạm Viết H1 thấy rằng diện tích đất rừng ông H1 được giao là 30,0ha; phía Đông Bắc giáp hộ ông L1; phía Đông - N và phía Tây - Nam giáp vùng rừng chưa giao (vùng rừng do lâm trường quản lý chung); phía Tây - Bắc giáp khe Mạn Tác và đường mòn.
- Theo kết quả đo đạc ngày 19/8/2024; Bản đồ giao đất khoán rừng cho hộ nhận khoán ông Phạm Viết H1 thì có diện tích 56.303m² đất của bà H nằm trong thửa đất của ông H1 nhận giao khoán.
- Như vậy, ông Phạm Viết H1 là người sử dụng diện tích 30,0ha đất rừng trong đó có diện tích 56.303m² đất nằm trong GCNQSD đất của bà H trước khi bà H được cấp đất. Năm 2003 ông Trần Văn H2 và bà Phan Thị H mới được giao 123.341m² đất rừng.
- Ngày 16/6/2003, UBND xã T, huyện T và các ban ngành liên quan đã tiến hành lập biên bản xác định mốc giới, ranh giới thửa đất lâm nghiệp và tiến hành lập biên bản giao đất ngoài thực địa cho ông Trần Văn H2; tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất không có chữ ký của chủ sử dụng đất liền kề là ông Phạm Viết H1; tại thời điểm gia đình ông H2 làm đơn đề nghị được cấp đất, Lâm trường T chưa có quyết định thu hồi đất đã giao khoán cho ông H1; không xác định vị trí thửa đất mà Lâm trường T7 đang quản lý đã giao cho ai quản lý, sử dụng hay chưa nhưng UBND xã T đã thực hiện giao đất rừng trên thực địa cho gia đình ông H2 quản lý, sử dụng là chưa đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Do đó, có căn cứ cho rằng, UBND huyện T cấp đất cho ông H2 và bà H năm 2003 đã cấp chồng lấn lên diện tích đất Lâm trường Thanh C3 đã giao khoán cho ông Phạm Viết H1 là 56.303m². Tuy nhiên, do Hợp đồng giao khoán đất giữa ông H1 và Lâm trường T7 (sau này là Ban Q) đã được thanh lý ngày 31/12/2021, ông Phạm Viết H1 không được quyền canh tác trên diện tích đất này nên không nhất thiết phải hủy GCNQSD đất và một phần QĐ cấp GCNQSD đất của bà Phan Thị H như yêu cầu của ông Phạm Viết H1.
- [2.3] Đối với yêu cầu của bà Phan Thị H yêu cầu ông Phạm Viết H1 phải trả lại cho bà 56.303m² tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 2, tiểu khu I, Mạn Tác, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An:
- Mặc dù có căn cứ cho rằng, diện tích 56.303m² đất của bà H cấp chồng lấn trên diện tích đất ông H1 được giao khoán, tuy nhiên nay Hợp đồng giao khoán đất giữa ông Phạm Viết H1 và Lâm trường T7 (nay là Ban Q) đã được thanh lý và bà H là người sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất này nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc ông Phạm Viết H1 phải trả lại diện tích đất 56.303m² được giới hạn bởi các điểm từ 1, 2, 3, 4, D, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 rồi về điểm 1 (có sơ đồ kèm theo bản án).
- Đối với các tài sản trên đất: Theo kết quả thẩm định, định giá ngày 19/8/2024, ông Lê Văn V khai tài sản trên đất là keo do ông Đ, ông L, ông H1 và anh T2 trồng. Ông H1, ông Đ, ông L và anh T2 trồng khi đất đang có tranh chấp, ông H1 biết rõ đất ông H1 không có quyền được canh tác trên diện tích đất này vì đã hết thời hạn theo Hợp đồng giao khoán nhưng vẫn cố tình canh tác và cho những người khác cùng canh tác là vi phạm pháp luật, nên ông đề nghị Tòa án buộc ông H1, ông Đ, ông L và anh T2 phải có nghĩa vụ di dời các cây trồng để trả lại đất cho bà H; ông không đồng ý trả chi phí đầu tư trên đất cho ông H1 vì từ khi hết thời hạn thuê đất theo Hợp đồng giao khoán ông H1 đã nhiều lần thu hoạch keo và đã có thu lợi. Thấy rằng, lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày là có căn cứ, nên chấp nhận.
- Tại biên bản thẩm định, định giá lập ngày 14/9/2022, xác định giá thửa đất tranh chấp số 115, tờ bản đồ số 2, địa chỉ Suối Mạn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có giá là 4.500 đồng/m²; Tại biên bản thẩm định, định giá lập ngày 19/8/2024, xác định diện tích đất tranh chấp là 56.303m² x 4.500 đồng/m² = 253.363.500 đồng (hai trăm năm mươi ba triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm đồng); xác định diện tích keo 01 năm tuổi là 41.498m², giá trị 30.000.000 đồng/ha = 124.494.000 đồng; diện tích keo 01 - 03 năm tuổi là 14.805m², giá trị 40.000.000 đồng/ha = 59.220.000 đồng (một trăm hai mươi triệu, chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng); tổng giá trị keo 1 năm tuổi và 3 năm tuổi trên diện tích 56.303m² là 183.714.000 đồng.
- Tại biên bản thẩm định, định giá được tiến hành ngày 14/9/2022 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định: ông Phạm Viết T4 trồng keo chồng lấn lên thửa 115 có diện tích là 13297m²; ông Phạm Viết T3 trồng keo chồng lấn lên thửa 115 có diện tích là 12789m²; ông Phạm Viết H1 trồng keo chồng lấn lên thửa 115 có diện tích là 25095m²; ông Nguyễn Bá T2 trồng keo chồng lấn lên thửa 115 có diện tích là 1738m². Tuy nhiên, tại buổi thẩm định, định giá ngày 19/8/2024 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ xác định diện tích keo 01 năm tuổi là 41.498m², diện tích keo 01 - 03 năm tuổi là 14.805m² và cũng chỉ khai chung chung số cây keo này do ông H1, ông Đ, ông L và anh T2 trồng chứ không khai rõ diện tích keo của mỗi người là bao nhiêu và cũng không thể hiện diện tích keo do ông Phạm Viết T4, ông Phạm Viết T3 trồng. Căn cứ lời khai trong Biên bản lấy lời khai của ông Phạm Viết T3, ngày 25/7/2024 thì sau khi xảy ra tranh chấp, ông T3, ông T4, ông C1 đã thu hoạch toàn bộ keo do mình trồng và trả lại đất cho ông H1.
- Do ông Phạm Viết H1, bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Công Đ, ông Trần Đình L, ông Nguyễn Bá T2 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng cố tính không đến Tòa án để làm việc cũng như không đến tham gia phiên tòa nên đối với tài sản trên đất nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu.
- Trong bản tự khai ông Phạm Viết H1 đề nghị: nếu đất bị thu hồi thì đề nghị bồi thường cho ông theo Nghị định 163/CP: Xét thấy, đất ông H1 được quyền sử dụng theo Hợp đồng giao khoán và có thời hạn 20 năm. Ngày 31/12/2021, Ban Q đã có Quyết định chấm dứt hợp đồng và thanh lý hợp đồng, các văn bản này ông H1 đã được nhận. Tuy nhiên, kể từ ngày hết hạn sử dụng theo Hợp đồng, ông H1 vẫn tiếp tục canh tác và hưởng lợi trên diện tích đất này; đất của ông Phạm Viết H1 cũng không bị thu hồi khi Hợp đồng giao khoán đất rừng giữa ông và Ban QLRPH đang còn hiệu lực; ông không đề nghị cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông nên không có căn cứ xem xét.
- [3] Về án phí và chi phí tố tụng:
- [3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: ông Phạm Viết H1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải nộp.
- Trả lại cho bà Phan Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [3.2] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Nguyên đơn đã nộp 20.000.000 đồng. Đã chi phí hết 15.811.000 đồng. Số tiền còn lại người đại diện theo ủy quyền của nguyên đã nhận đủ và tự nguyện chịu số tiền chi phí này nên không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; Điều 34; Điều 147; Điều 165; Điều 217; Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 163, 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
- Buộc ông Phạm Viết H1 trả lại diện tích 56.303m² đất rừng thuộc thửa đất số 115, tờ bản đồ số 2 thuộc tiểu khu I, Mạn Tác, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Buộc ông Phạm Viết H1, ông Nguyễn Công Đ, ông Trần Đình L, ông Nguyễn Bá T2 phải di dời, thu hoạch toàn bộ số keo đang trồng trên diện tích đất tranh chấp 56.303m², được giới hạn bởi các điểm từ 1, 2, 3, 4, D, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 rồi về điểm 1 (có sơ đồ kèm theo bản án).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Viết H1 về việc hủy 01 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An cấp ngày 28/4/2016 đối với thửa số 115, tờ bản đồ 02, diện tích 123.314,0m² tại tiểu khu I, M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên Phan Thị H.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- 3.1. Về án phí: ông Phạm Viết H1 không phải chịu.
- Trả lại cho bà Phan Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009148 ngày 16/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- 3.2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- - VKSND t. Nghệ An;
- - Các đương sự;
- - Chi cục THADS h. Thanh Chương;
- - Cục THADS t. Nghệ An.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất
