|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/02/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Ông Lê Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T. Địa chỉ: khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T1. Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2022, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 14/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 quen biết nhau, tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng ngày 02 tháng 11 năm 2011. Ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến, cự cãi thường xuyên, gia đình không hạnh phúc, hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Bà T và ông T1 đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay bà T nhận thấy hai bên không còn tình cảm với nhau, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình lại được.
Do đó, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông T có 01 con chung tên Huỳnh Tuấn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2012. Hiện nay cháu H đang sống chung với bà T. Khi ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh T1: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Huỳnh Thanh T1, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Huỳnh Thanh T1 vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh T1, giải quyết cho bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Huỳnh Tuấn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2012 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Huỳnh Tuấn H đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Huỳnh Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1; Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Tuấn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2012 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Huỳnh Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[3] Đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02/11/2011 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 là hợp pháp. Bà Nguyễn Thị T trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do do vợ chồng bất đồng ý kiến, cự cãi thường xuyên, gia đình không hạnh phúc, hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 đã không còn chung sống hơn 10 năm nay. Cho nên bà Nguyễn Thị T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Huỳnh Thanh T1 không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T và giải quyết cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1.
[2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Thanh T1 có 01 con chung là cháu Huỳnh Tuấn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2012. Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Tuấn H đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Huỳnh Thanh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Huỳnh Tuấn H đang sống chung với bà Nguyễn Thị T, được bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, đồng thời cháu Huỳnh Tuấn H cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Nguyễn Thị T. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, giao cháu Huỳnh Tuấn H cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Huỳnh Tuấn H đủ 18 tuổi.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Huỳnh Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị T không yêu cầu.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh T1.
- Về con chung:
Giao cháu Huỳnh Tuấn H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 2012 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Huỳnh Tuấn H đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Huỳnh Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, ông Huỳnh Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005679 ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
