Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG

TỈNH GIA LAI

Bản án số:05/2025/HSST.

Ngày:10/02/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Hội.
  2. Ông Trần Khánh .

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên (KSV).

Ngày 10/02/2025, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/HS-ST ngày 10/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 02/10/2005 tại A, Gia Lai; nơi thường trú: Làng T, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; số CCCD: [...] cấp ngày 25/3/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Thanh H và bà Hoàng Thị L; bị giam giữ từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Đinh Văn H1, sinh ngày 02/12/2002 tại K, Gia Lai; nơi thường trú: Làng M, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Dân tộc: Bana; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; số CCCD: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH ; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đinh M và bà Đinh Thị H2; bị giam giữ từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Văn S, sinh ngày 22/11/2005 tại K, Gia Lai; Nơi thường trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; số CCCD: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Minh Q và bà Trần Thị D; bị giam giữ từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  4. Đinh Hoài Â, sinh ngày 28/01/2004 tại K, Gia Lai; Nơi thường trú: Làng Kgiang, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Bana; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; số CCCD: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đinh Văn L1 và bà Đinh Thị T; bị cáo ra tự thú bị giam giữ từ ngày 28/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho các bị cáo Đinh Văn H1 và Đinh Hoài Â: Bà Cao Thị Mi S1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G (có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1; Địa chỉ: Nhân viên bưu điện xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Làng T, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  4. Bà Trần Thị D, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).
  5. Ông Đinh Văn L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Làng K, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).

*Người làm chứng: Ông Đinh H3, sinh năm 1959; Địa chỉ: Làng M, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 26/6/2024, Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh bạc, biển kiểm soát 81H1-281.82 của bà Trần Thị D (mẹ S) đến nhà Đinh Văn H1 chơi. Tại nhà H1, vì S đang có mâu thuẫn với Nguyễn Hoàng B nên S đưa cho H1 400.000 đồng nhờ H1 liên lạc với B để mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng, H1 đồng ý. Hiên sử dụng điện thoại di động của H1 vào nick Facebook “Gấu Ca” liên lạc qua Messenger với nich Facebook của B là “Nguyen Hoang B1” để hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và nhắn cho H1 số tài khoản 0342059125-Ngân hàng MB của B để H1 chuyển tiền qua tài khoản rồi B sẽ giao ma túy. H1 cầm tiền do S đưa rồi lái xe mô tô của mẹ S đến quầy tạp hóa của chị Nguyễn Thị N ở thôn H, xã K, H1 đưa số tài khoản của B cho chị N và nhờ chị chuyển 400.000 đồng vào tài khoản của B, vì quen biết do H1 thường mua hàng nên chị N đã chuyển tiền giúp cho H1. Bách xác nhận đã nhận được tiền và hẹn H1 ra cầu đầu làng M, xã K Khơng để nhận ma túy. Bách mang một vỏ thuốc con ó bên trong có gói ma túy đá đến để ở cây cột trên cầu chụp hình gửi cho H1 rồi chỉ chỗ H1 đến lấy. Theo sự chỉ dẫn của B, H1 đến vị trí cây cột trên cầu nhặt vỏ bao thuốc con ó lên mở ra xem thì thấy bên trong có 01 gói ma túy đá, H1 mang gói ma túy đá về nhà đưa cho S. Tại nhà H1, vì sợ bị phát hiện nên S chia cho H1 một nửa gói ma túy để H1 sử dụng tại nhà H1, S giữ lại một nửa rồi đi chỗ khác để sử dụng. S hỏi mượn Hiên một cái nỏ thủy tinh (công cụ sử dụng ma túy đá) thì H1 cho S mượn bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của H1 gồm một nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu trắng-đỏ và nỏ thủy tinh uốn cong có một đầu tròn phình to. S cầm nửa gói ma túy đá và dụng cụ mượn từ H1 đi xuống khu vực Trường THPT A để tìm chỗ sử dụng ma tuý. Trên đường đi H1 nhặt một vỏ chai nước Nutri boost đổ nước lạnh vào chai, rồi lấy nắp chai có gắn ống nhựa và nỏ thủy tinh mà H1 cho vặn vào chai tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá hoàn chỉnh. Đến Trường THPT A, S đi đến rẫy mía của ông Đinh N1, trú tại làng K, xã K, đổ ma túy đá vào nỏ thủy tinh rồi dùng hộp quẹt hơ nóng cho ma túy đá tan chảy, có hơi bốc qua chai nước, S hút hơi bay ra qua đầu ống còn lại. Sử dụng ma túy xong, S rút ống thủy tinh ra khỏi chai và đập bể đầu tròn phình to nơi đựng ma túy đá, vứt đoạn ống thủy tinh còn lại cùng ống nhựa và chai N2 boost tại rẫy mía rồi cầm hộp quẹt đi về.

Cùng lúc này, tại nhà H1, sau khi được S chia cho ma túy đá thì H1 vào nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá còn lại của H1 gồm: 01 chai nước, có nắp chai màu đỏ, trên nắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ được cắm ống nhựa màu trắng-đỏ, 01 lỗ được cắm một đoạn ống nhựa nối với nỏ thủy tinh, được quấn bằng băng keo màu đen, ống thủy tinh uốn cong có một đầu tròn phình to. Hiên đổ ma túy vào nỏ thủy tinh, dùng hộp quẹt hơ nóng cho ma túy đá trong nỏ thủy tinh tan chảy có hơi bốc qua chai nước rồi hút những hơi bay ra qua đầu ống nhựa.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đinh Hoài  sử dụng xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đỏ-đen, biển kiểm soát 81H1-083.97 của ông Đinh Văn L1 (bố Â) đến nhà H1 chơi, tại đây  rủ và H1 đồng ý góp tiền mua ma túy đá về sử dụng,  góp 250.000 đồng và H1 góp 50.000 đồng. Góp tiền xong, H1 và  dùng xe mô tô của bố  chở nhau đến Bưu điện xã K, H1 nhờ anh Nguyễn Văn T1 (nhân viên bưu điện) chuyển giúp vô số tài khoản 00006100523-Ngân hàng T4 (T5) của Hiên 300.000 đồng, vì quen biết nên anh T1 đồng ý nhận tiền mặt và chuyển tiền vào tài khoản của H1. Khi có tiền trong tài khoản, H1 tiếp tục liên lạc với B hỏi mua 300.000 đồng ma túy, B đồng ý và yêu cầu H1 trả 150.000 đồng tiền H1 mượn trước đó chuyển vào số tài khoản Ngân hàng MB của B. Hiên dùng số tài khoản 0387272302-Ngân hàng M1 của H1 chuyển vào số tài khoản 00006100523-Ngân hàng T5 cũng của H1 150.000 đồng để đủ 450.000 đồng, rồi H1 chuyển vào số tài khoản của B 450.000 đồng. Sau khi xác nhận H1 đã chuyển tiền, B hẹn Hiên đến đầu cầu L, xã K Khơng để lấy ma túy.  chở H1 đến cầu thì gặp B đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng, biển kiểm soát 14X1-282.47 của ông Nguyễn Thanh H (bố của B) đứng chờ sẵn, B đưa gói ma túy đá cho H1, H1 và  mang gói ma túy đá về nhà H1. Cả hai lấy bộ dụng cụ mà H1 đã sử dụng ma tuý đá trước đó, H1 bỏ ma túy vào nỏ thủy tinh rồi cả hai dùng hộp quẹt hơ nóng ma túy đá tan chảy có hơi bốc qua chai nước và thay phiên nhau hút những hơi bay ra qua đầu ống nhựa còn lại.

Đến ngày 28/6/2024, nhận thấy hành vi phạm tội của mình, Đinh Hoài  đã ra tự thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện K đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với H1 và S. Quá trình khám xét chỗ ở của H1 đã thu giữ bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nước có nắp chai màu đỏ, trên nắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ được cắm ống nhựa màu trắng-đỏ, 01 lỗ được cắm một đoạn ống nhựa nối với nỏ thủy tinh, được quấn bằng băng keo màu đen, ống thủy tinh uốn cong có một đầu tròn phình to (được niêm phong, kí hiệu A) và 01 hộp quẹt có hình quả táo và chữ viết in hoa “HOA VIỆT”, bên trong hộp quẹt có 02 hạt xúc sắc màu vàng-màu tím.

Từ lời khai của H1, Â và S, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của B, qua đó thu giữ 01 gói nilong màu đen bên trong có các hạt tinh thể màu trắng (B khai nhận là ma túy đá, được niêm phong, kí hiệu B) và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nước STING, trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn; 01 lỗ cắm ống nhựa màu trắng; 01 lỗ cắm ống thủy tinh uốn cong, có một đầu tròn phình to, ở trên có hình hoa (bên trong ống thủy tinh còn một ít chất có màu trắng-xám, B khai nhận là ma túy đá, B sử dụng còn lại, được niêm phong, kí hiệu C).

Theo sự chỉ dẫn của Nguyễn Văn S, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã thu giữ tại rẫy nơi San sử dụng ma túy 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) ký hiệu là D, là công cụ S dùng để sử dụng ma túy.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 28/6/2024 xác định Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S, Đinh Hoài  và Nguyễn Hoàng B đều dương tính với ma túy loại Methamphetamin. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành xác minh UBND xã Kông Lơng Khơng xác định tại thời điểm bị phát hiện thì H1, S và  đều không nằm trong danh sách người nghiện ma túy do chính quyền địa phương quản lý, các đối tượng trên đều chưa được áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy nào.

Căn cứ các Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế huyện K, tỉnh Gia Lai ngày 03/7/2024 xác định H1, S và Â đều không phải là người nghiện ma túy.

Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã Trưng cầu Phòng K Công an tỉnh G để xác định chất ma túy thu được. Tại Kết luận giám định số: 670/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận:

  1. “1. Chất màu trắng - nâu, bám dính trong 01 (một) ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) trong bì thư ghi “A” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng” (thu được tại nơi ở Đ)
  2. “2. Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon màu đen trong bì thư ghi “B” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 1,1515 gam” (thu được tại nơi ở của Nguyễn Hoàng B).
  3. “3. Chất màu trắng - nâu, trong 01 (một) ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) trong bì thư ghi “C” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 0,3809gam” (thu được tại nơi ở của Nguyễn Hoàng B).
  4. “4. Chất màu trắng - nâu, bám dính trong 01 (một) ống thủy tinh, có một đầu uốn cong trong bì thư ghi “D” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng” (thu được tại nơi Nguyễn Văn S sử dụng ma túy).

Những đồ vật, tài liệu Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã thu giữ, gồm:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng-đen, biển kiểm soát 14X1 – 282.47 được B sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy (là xe của ông Nguyễn Thanh H-bố của B).
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE7, loại màn hình cảm ứng, mặt ốp lưng màu đen, số IMEI: 354917093262183, gắn sim số thuê bao 0559635198, đã qua sử dụng được B sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy.
  • 01 hộp quẹt màu đỏ là công cụ Bách dùng để sử dụng ma túy, được thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của B.
  • Số tiền 1.000.000 đồng được B tự nguyện giao nộp, trong đó có 700.000 đồng là tiền Bách bán ma túy mà có.
  • 01 ví da màu đen-xám đã qua sử dụng, B sử dụng để đựng tiền bán ma túy mà có, B tự nguyện giao nộp.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màn hình cảm ứng, ốp lưng màu đỏ, số IMEI: 352992094735141 được H1 dùng dùng để liên lạc với B mua ma túy cho S và Â sử dụng.
  • 01 con dao dài 29cm, cán bằng nhựa màu đen dài 09cm, một cạnh lưỡi dài 20cm, ở giữa cán và lưỡi dao có gắn hình con rồng, là công cụ H1 dùng để cắt đôi gói ma túy chia cho S, do Hiên tự nguyện giao nộp.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, IMEI 1: 862173063972857, IMEI 2: 862173063972857 của S được thu giữ.
  • 01 hộp quẹt màu xanh, đã qua sử dụng được S dùng để sử dụng ma túy.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh bạc, biển kiểm soát 81H1 – 281.82 được S sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi biết sự việc, ngày 03/7/2024, mẹ S là bà Trần Thị D đã tự nguyện giao nộp chiếc xe này để phục vụ điều tra. Quá trình điều tra xác định xe mô tô nêu trên là tài sản hợp pháp của bà D, bà D không biết việc S sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà D theo quy định.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen-đỏ, biển kiểm soát 81H1 – 083.97 được  sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi biết sự việc, ngày 03/7/2024, cha  là ông Đinh Văn L1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe này để phục vụ điều tra. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông L1, ông L1 không biết việc  sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho ông L1 theo quy định.
  • 01 ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và vỏ bao gói được niêm trong 01 bì công văn, có đặc điểm: Mặt trước ghi “A” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1, là công cụ của H1 dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã được thu giữ, sau khi giám định được Phòng K Công an tỉnh G hoàn trả.

- Chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,1131gam và vỏ bao gói được niêm trong 01 bì công văn, có đặc điểm: Mặt trước ghi “B” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1, là tang vật được thu giữ trong quá trình điều tra, sau khi giám định được Phòng K Công an tỉnh G hoàn trả.

- Chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,3513gam và vỏ bao gói được niêm trong 01 bì công văn, có đặc điểm: Mặt trước ghi “C” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1, là tang vật được thu giữ trong quá trình điều tra, sau khi giám định được Phòng K Công an tỉnh G hoàn trả.

- 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và vỏ bao gói được niêm trong 01 bì công văn, có đặc điểm: Mặt trước ghi “D” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1. Là công cụ S dùng để sử dụng ma túy được thu giữ trong quá trình điều tra, sau khi giám định được Phòng K Công an tỉnh G hoàn trả.

Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 09/10/2024, VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã truy tố Nguyễn Hoàng B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS) và tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS; truy tố Đinh Văn H1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS; truy tố Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma tuý”; tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS để xử phạt bị cáo B từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 54 và 55 của BLHS để xử phạt bị cáo B từ 04 năm 03 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”; tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo B phải chịu hình phạt chung từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và 58 của BLHS để xử phạt bị cáo H1 từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của BLHS để xử phạt bị cáo S từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; các điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 58 và 54 BLHS để xử phạt bị cáo  từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 10 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bốn bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy đối với:

  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “A” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và có vỏ bao gói.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “B” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,1131 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “C” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,3513 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “D” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 hộp quẹt màu đỏ.
  • 01 ví da màu đen-xám, đã qua sử dụng.
  • 01 hộp quẹt đã qua sử dụng, trên hộp quẹt có hình quả táo và chữ viết in hoa “HOA VIỆT”, bên trong hộp quẹt có 02 hạt xúc sắc màu vàng-tím.
  • 01 con dao dài 29cm, cán bằng nhựa màu đen dài 09cm, một cạnh lưỡi dài 20cm, ở giữa cán và lưỡi dao có gắn hình con rồng.
  • 01 hộp quẹt màu xanh, đã qua sử dụng.

Đề nghị tuyên trả cho ông Nguyễn Thanh H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng-đen, biển số 14X1-282.47 và tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, IMEI 1: 862173063972857, IMEI 2: 862173063972857, màu xanh ngọc, điện thoại đã qua sử dụng.

Đề nghị tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE7, loại màn hình cảm ứng, mặt ốp lưng màu đen, số IMEI: 354917093262183, gắn sim số thuê bao 0559635198 (không liên lạc được), mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màn hình cảm ứng, ốp lưng màu đỏ, số IMEI: 352992094735141, mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.

Đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng bị cáo Nguyễn Hoàng B có được do mua bán ma túy và tự nguyện giao nộp chứa trong phong bì được niêm phong bên trong có số tiền 1.000.000 đồng, mặt trước có ký hiệu “A”, tại mép dán mặt sau có chữ ký của ông Bùi Văn D2 và Nguyễn Tùng D3 và các hình dấu tròn của cơ quan Công an thị trấn K, đề nghị tuyên trả lại bị cáo B số tiền 300.000 đồng bị cáo đã giao nộp thừa.

- Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1 và Đinh Hoài  phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định; đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Văn S do gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và xin khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Đinh Văn H1 và Đinh Hoài  là bà Cao Thị Mi S1 trình bày nội dung bào chữa:

Nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng đối với hai bị cáo mà Bản cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trước khi quyết định hình phạt, đó là:

Hai bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo  sau khi phạm tội đã ra tự thú là là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của BLHS. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế; bị cáo H1 có cha mẹ ly hôn, bị cáo sống với ông nội từ nhỏ nên thiếu thốn tình cảm gia đình; gia đình bị cáo  có công với cách mạng với ông nội là thương binh và ông ngoại là bệnh binh, bị cáo cũng đã từng phục vụ trong quân ngũ; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, đề nghị HĐXX xử phạt hai bị cáo ở mức án khởi điểm mà VKSND huyện Kbang đã đề nghị đối với từng bị cáo, trong đó cho bị cáo  được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H trình bày xin được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng-đen, biển số 14X1-282.47; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kbang, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  đã khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ cơ sở để xác định rằng:

Vào chiều ngày 26/6/2024, Nguyễn Văn S đến nhà Đinh Văn H1 chơi, S đưa cho H1 400.000 đồng nhờ H1 liên lạc với B để mua ma túy đá về để cùng sử dụng. Hiên sử dụng điện thoại di động của H1 vào nick Facebook “Gấu Ca” liên lạc qua Messenger với nich Facebook của B là “Nguyen Hoang B1” để hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và nhắn cho H1 số tài khoản 0342059125-Ngân hàng MB của B để H1 chuyển tiền qua tài khoản rồi B sẽ giao ma túy. H1 cầm tiền do S đưa rồi lái xe mô tô của mẹ S đến quầy tạp hóa của chị Nguyễn Thị N ở thôn H, xã K Khơng nhờ chị N chuyển 400.000 đồng vào số tài khoản của B, B xác nhận đã nhận được tiền và hẹn H1 ra cầu đầu làng M, xã K Khơng để nhận ma túy. Bách mang một vỏ thuốc con ó bên trong có gói ma túy đá đến để ở cây cột trên cầu chụp hình gửi cho H1 rồi chỉ chỗ H1 đến lấy. Theo sự chỉ dẫn của B, H1 đã đến lấy và mang gói ma túy đá về nhà đưa cho S. Tại nhà H1, vì sợ bị phát hiện nên S chia cho H1 một nửa gói ma túy để H1 sử dụng tại nhà H1, S giữ lại một nửa rồi đi chỗ khác để sử dụng. San hỏi và được H1 cho mượn bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của H1 gồm một nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống nhựa màu trắng-đỏ và nỏ thủy tinh uốn cong có một đầu tròn phình to. S đã sử dụng nửa gói ma túy đá này tại khu vực Trường THPT A, cụ thể là tại rẫy mía của ông Đinh N1, trú tại làng K, xã K Khơng. Cùng lúc này thì H1 cũng sử dụng số ma túy được S chia cho tại nhà H1.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đinh Hoài  đến nhà H1 chơi và rủ H1 góp tiền mua ma túy đá về sử dụng,  đã góp 250.000 đồng và H1 góp 50.000 đồng. Sau đó, H1 và  đi đến Bưu điện xã K Khơng nhờ anh Nguyễn Văn T1 (nhân viên bưu điện) chuyển giúp vô số tài khoản 00006100523 Ngân hàng T4 (T5) của Hiên 300.000 đồng. Khi có tiền trong tài khoản, H1 liên lạc với B hỏi mua 300.000 đồng ma túy, B đồng ý và yêu cầu H1 trả 150.000 đồng tiền Hiên mượn trước đó thì H1 đã chuyển vào số tài khoản Ngân hàng M2 của Bách 450.000 đồng. Sau khi xác nhận H1 đã chuyển tiền, B đã hẹn và  chở H1 đến đầu cầu L, xã K Khơng gặp B nhận gói ma túy đá. H1 và  mang gói ma túy về nhà H1, lấy bộ dụng cụ mà H1 đã sử dụng ma tuý đá trước đó rồi cùng nhau sử dụng.

Tại Kết luận Giám định số 670/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh G đã kết luận:

Chất màu trắng-nâu, bám dính trong 01 ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) trong bì thư ghi “A” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng” (thu được tại nơi ở Đ)

Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 gói nilon màu đen trong bì thư ghi “B” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 1,1515 gam” (thu được tại nơi ở của Nguyễn Hoàng B).

Chất màu trắng-âu, trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) trong bì thư ghi “C” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 0,3809gam” (thu được tại nơi ở của Nguyễn Hoàng B).

Chất màu trắng - nâu, bám dính trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong trong bì thư ghi “D” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng” (thu được tại nơi Nguyễn Văn S sử dụng ma túy).

Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  xác định các đối tượng này đều dương tính với ma túy loại Methamphetamin.

Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  qua xác nhận của cơ sở y tế đều không phải là người nghiện ma túy. Qua xác minh UBND xã K đã xác định tại thời điểm bị phát hiện hành vi phạm tội nêu trên thì H1, S và  không nằm trong danh sách người nghiện ma túy do chính quyền địa phương quản lý, các đối tượng trên đều chưa bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy nào.

Với kết quả giám định như trên đã xác định tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamin thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Hoàng B là 1,5324 gam đã đủ khối lượng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngoài ra, hành vi của B 02 lần bán ma túy cho Đinh Văn H1 đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” thuộc tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Đinh Văn H1 đã 02 lần liên hệ với Nguyễn Hoàng B để mua ma túy về sử dụng với Nguyễn Văn S và Đinh Hoài Â. Vì vậy, hành vi nêu trên của H1 đã phạm vào tội : "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" thuộc tình tiết định khung tăng nặng là "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS.

Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  đã 01 lần đưa tiền hoặc góp tiền cho Đinh Văn H1 mua ma túy của Nguyễn Hoàng B về sử dụng cùng H1 nên hành vi của S và  đã phạm vào tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của BLHS.

Như vậy, việc VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  về các tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi tàng trữ trái phép và mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng B, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  là các tội phạm nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn và rất lớn cho xã hội. Các hành vi này đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là nguồn của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ):

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Nguyễn Hoàng B đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Đinh Hoài  sau khi phạm tội đã ra tự thú, khai nhận hành vi phạm tội, giúp cho cơ quan chức năng kịp thời phát hiện tội phạm là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo B và bị cáo S có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, bị cáo S hiện mắc nhiều bệnh nền trong người có xác nhận của chính quyền địa phương; gia đình bị cáo  thuộc diện có công với cách mạng với ông nội là thương binh và ông ngoại là bệnh binh, bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân ngũ; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[5]. Về hình phạt:

Qua xem xét nhân thân của các bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, HĐXX thấy cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù nghiêm khắc ở mức khởi điểm mà Viện kiểm sát và người bào chữa đã đề nghị, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện và nâng cao hiệu quả cảnh tỉnh, phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt áp dụng đối với mỗi bị cáo. Trong đó, HĐXX đã áp dụng quy định tại Điều 54 của BLHS để cho bị cáo Nguyễn Hoàng B được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình hình phạt ở tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Đinh Hoài  được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình hình phạt ở tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà các bị cáo bị truy tố vì hai bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Liên quan đến vụ án có chị Nguyễn Thị N là người được Đinh Văn H1 nhờ chuyển tiền vào số tài khoản của B để mua ma túy và anh Nguyễn Văn T1 là người được H1 nhờ chuyển tiền vào tài khoản của H1 để H1 chuyển cho B mua ma túy. Tuy nhiên, do chị N và anh T1 không biết việc H1 nhờ chuyển tiền để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị N và anh T1 là đúng pháp luật, anh chị là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Đối với đối tượng tên “Vy”, qua lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng B là người đã bán ma túy cho B tại thị xã A, tỉnh Gia Lai. Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch nên khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng được các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước, gồm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE7, loại màn hình cảm ứng, mặt ốp lưng màu đen, số IMEI: 354917093262183, gắn sim số thuê bao 0559635198 (không liên lạc được), mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màn hình cảm ứng, ốp lưng màu đỏ, số IMEI: 352992094735141, mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng-đen, biển số 14X1-282.47 của ông Nguyễn Thanh H là cha của bị cáo B. Do ông H không biết việc B sử dụng chiếc xe trên để làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên trả lại cho ông chiếc xe này.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, IMEI 1: 862173063972857, IMEI 2: 862173063972857, màu xanh ngọc của bị cáo Nguyễn Văn S, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo S nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với các vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy, gồm:

  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “A” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và có vỏ bao gói.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “B” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,1131 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “C” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,3513 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “D” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 hộp quẹt màu đỏ.
  • 01 ví da màu đen - xám, đã qua sử dụng.
  • 01 hộp quẹt đã qua sử dụng, trên hộp quẹt có hình quả táo và chữ viết in hoa “HOA VIỆT”, bên trong hộp quẹt có 02 hạt xúc sắc màu vàng-tím.
  • 01 con dao dài 29cm, cán bằng nhựa màu đen dài 09cm, một cạnh lưỡi dài 20cm, ở giữa cán và lưỡi dao có gắn hình con rồng.
  • 01 hộp quẹt màu xanh, đã qua sử dụng.

Tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng bị cáo Nguyễn Hoàng B có được do mua bán ma túy và tự nguyện giao nộp chứa trong phong bì được niêm phong bên trong có số tiền 1.000.000 đồng, mặt trước có ký hiệu “A”, tại mép dán mặt sau có chữ ký của ông Bùi Văn D2 và Nguyễn Tùng D3 và các hình dấu tròn của của cơ quan Công an thị trấn K, tuyên trả lại bị cáo B số tiền là 300.000 đồng còn lại.

[9]. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1 và Đinh Hoài  phải chịu án phí HSST theo quy định; miễn án phí HSST cho bị cáo Nguyễn Văn S do gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H1, Nguyễn Văn S và Đinh Hoài  phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuỷ" .

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 54 và 55 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội:: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo B phải chịu hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giam giữ (ngày 28/6/2024).

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và 58 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Đinh Văn H1 là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giam giữ (ngày 28/6/2024).

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S là 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giam giữ (ngày 28/6/2024).

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 58 và 54 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Đinh Hoài  01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giam giữ (ngày 28/6/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bốn bị cáo.

- Áp dụng các khoản 1, 2 Điều 47 của BLHS và các khoản 2, 3 Điều 106 của BLTTHS;

Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với:

  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “A” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa ống thủy tinh, một đầu gắn ống nhựa màu đỏ trắng, một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và có vỏ bao gói.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “B” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 gói nilon còn lại sau giám định, có khối lượng 1,1131 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “C” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamne) trong 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,3513 gam và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 bì công văn được niêm phong, có đặc điểm: mặt trước ghi “D” và “Số 670/PC09 ngày 06 tháng 7 năm 2024”, tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng K, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thành L2 và Trần Văn D1 bên trong có chứa 01 ống thủy tinh, có một đầu uốn cong phình to (hình cầu) và vỏ bao gói được niêm phong.
  • 01 hộp quẹt màu đỏ.
  • 01 ví da màu đen - xám, đã qua sử dụng.
  • 01 hộp quẹt đã qua sử dụng, trên hộp quẹt có hình quả táo và chữ viết in hoa “HOA VIỆT”, bên trong hộp quẹt có 02 hạt xúc sắc màu vàng - tím.
  • 01 con dao dài 29cm, cán bằng nhựa màu đen dài 09cm, một cạnh lưỡi dài 20cm, ở giữa cán và lưỡi dao có gắn hình con rồng.
  • 01 hộp quẹt màu xanh, đã qua sử dụng.

Tuyên tịch thu bán sung quỹ Nhà nước đối với:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE7, loại màn hình cảm ứng, mặt ốp lưng màu đen, số IMEI: 354917093262183, gắn sim số thuê bao 0559635198 (không liên lạc được), mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8, màn hình cảm ứng, ốp lưng màu đỏ, số IMEI: 352992094735141, mặt kính bị bể, điện thoại đã qua sử dụng.

T3 trả cho ông Nguyễn Thanh H chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu vàng-đen, biển số 14X1-282.47 và trả cho bị cáo Nguyễn Văn S chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, IMEI 1: 862173063972857, IMEI 2: 862173063972857, màu xanh ngọc.

Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 700.000 đồng bị cáo Nguyễn Hoàng B đã giao nộp chứa trong phong bì được niêm phong bên trong có số tiền 1.000.000 đồng, mặt trước có ký hiệu “A”, tại mép dán mặt sau có chữ ký của ông Bùi Văn D2 và Nguyễn Tùng D3 và các hình dấu tròn của của cơ quan Công an thị trấn K, tuyên trả lại bị cáo B số tiền là 300.000 đồng còn lại. (đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2024 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng B, Đinh Văn H1 và Đinh Hoài  mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Miễn cho bị cáo Nguyễn Văn S đồng án phí HSST.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/02/2025), các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày người đó nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh;
  • -VKSND huyện;
  • -Công an huyện;
  • -Các bị cáo;
  • -Người có QLNVLQ;
  • -Chi cục THADS huyện (khi án có HLPL);
  • -Lưu HSVA, VPTA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI về hình sự (tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 05/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ, Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng B cùng đồng phạm "Tàng trữ trái phép chất na tuý" và "mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger